domain, domain name, premium domain name for sales
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tập & Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tập & Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Tại sao người do thái lại thông minh và thống trị thế giới?

"Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này". Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không? Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam.


Bài viết dưới đây được lấy từ blog của tác giả Thanh Hằng trên mạng My Space. Nó được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là "Why Jews Are Intelligent" [1] (tạm dịch là "Vì sao người Do Thái thông minh"). Bài viết rất hay và có ý nghĩa nhưng chỉ có điều do được đăng ở một blog nên tính phổ biến không cao. Tôi xin phép đăng bài viết ở đây với hi vọng bài viết này sẽ đến được với nhiều người Việt Nam hơn.

Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ TB của người Do Thái vào khoảng từ 107,5 đến 115 (sd15). Để so sánh thì IQ TB của thế giới là 100 và IQ của người Việt Nam (theo một khảo sát) là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này.Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ "thiên tài" (IQ>=140 - cũng là mức yêu cầu của VNHIQ) trong số dân. Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ "thiên tài" sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài) 

Sau đây là bài dịch của tác giả Thanh Hằng:

"Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hêt từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới - số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài ngưởi chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm.

Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, người sáng tạo ra chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái.

Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống.

Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị cộng sản ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học ĐH Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao.

Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel, điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậy nó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.

Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân, chà là cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá.

Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể. Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân.

Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.

Ở Israel, hút thuốc là điều cấm kỵ. Nếu bạn là khách thì không nên hút thuốc trong nhà họ, họ sẽ lịch sự mời bạn ra ngoài để hút thuốc. Theo các nhà khoa học ở Đại học Israel, chất nicotine sẽ phá hủy những tế bào cơ bản trong cơ thể đồng thời ảnh hưởng đến gen và DNA (tế bào di truyền) dẫn đến sự thoái hóa bộ não.

Đồ ăn cho trẻ cũng luôn trong sự hướng dẫn của cha mẹ. Đầu tiên, hoa quả ăn cùng với hạnh nhân, sau đó là dầu gan cá. Theo đánh giá của tôi, những đứa trẻ Do Thái đều biết 3 thứ tiếng, ví dụ như tiếng Do Thái, Ả rập và tiếng Anh. Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được học đàn piano và violin, và đây là điều bắt buộc. Làm như vậy vì họ tin rằng điều này sẽ làm tăng chỉ số thông minh của trẻ và sẽ khiến con họ trở nên thông minh. Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái ...

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em được dạy các môn về kinh doanh, toán học, khoa học. Để so sánh , tôi có thể nhận thấy trẻ em ở California, chỉ số IQ của chúng khoảng 6 năm về trước. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn sung, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biết nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái. Thiết kế mẫu thời trang mới nhất của Levis là của khoa kinh doanh và thời trang của trường ĐH Israel.

Đã bao giờ bạn thấy họ cầu nguyện chưa? Họ sẽ luôn lắc đầu vì họ tin rằng hành động này sẽ kích thích và cung cấp nhiều oxy cho não. Điều tương tự giống như người Hồi giáo khi cầu nguyện họ phải quỳ lạy cúi đầu. Và hãy xem những người Nhật Bản, cách họ cúi đầu và người Nhật Bản cũng có rất nhiều người thông minh, họ thích ăn sushi (thịt cá tươi). Liệu đây có phải là sự trùng hợp?

Trung tâm thương mại của người Do Thái tập trung ở thành phố New York, và chỉ phục vụ cho người Do Thái. Nếu ai đó trong cộng đồng Do Thái có ý tưởng hay có thể sinh lời, hội đồng người DT sẽ cung cấp khoản vay không lãi suất và đảm bảo việc kinh doanh này phải phát triển. Vì lý do này, Starbuck, Dell, Coca-cola, DKNY, Oracle, Levis, Dunkin Donut, các bộ phim Hollywood và hàng trăm hoạt động kinh doanh khác đều nằm dưới sự tài trợ của cộng đồng Do Thái. Sinh viên Do Thái tốt nghiệp từ khoa y dược ở New York được khuyến khích đăng ký với hội đồng này và được phép hành nghề tư với khoản vay không lãi suất này.

Hút thuốc sẽ khiến bộ não bị thoái hóa. Trong chuyến thăm của tôi đến Singapore năm 2005, điều khiến tôi ngạc nhiên là những người hút thuốc bị coi như đồ bỏ đi và giá một bao thuốc là khoảng 7 USD. Cũng giống như ở Israel, việc hút thuốc là cấm kỵ và Singapore đã hình thành cách quản lý giống như ở Israel. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết các trường ĐH của Singapore đều thuộc đẳng cấp cao, dù Singapore chỉ nhỏ bằng Mahattan. Hãy nhìn sang Indonesia, đâu đâu mọi người cũng hút thuốc và giá một bao thuốc chỉ rẻ bèo khoảng 70 xu USD. Và bạn có thể đếm được số trường ĐH của họ, những gì họ sản xuất, những gì họ có thể tự hào, công nghệ ư? Họ còn chẳng thể nói được thứ ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ của mình, vì sao họ khó có thể sử dụng Tiếng Anh thành thạo? Liệu đây có phải là do việc hút thuốc? Bạn hãy tự suy nghĩ nhé.

Trong bài nay tôi không động chạm đến vấn đề tôn giáo hay chủng tộc. Đó là vì sao người Do Thái khá kiêu ngạo, và vì sao họ luôn bị săn đuổi từ thời Paraoh cho đến Hitler. Đối với tôi đó là vấn đề về chính trị và sự tồn vong. Điểm cuối cùng trong bài này là liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ giống như những người Do Thái? Câu trả lời có thể ở dạng khằng định đó là chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống hàng ngày, cách làm cha mẹ, và tôi đoán rằng chỉ trong 3 thế hệ, việc này có thể làm được. Điều này tôi có thể quan sát được từ đứa cháu của tôi. Chỉ mới 9 tuổi cậu đã viết được bài luận 5 trang về đề tài ‘Vì sao tôi thích cà chua?’. Cầu chúc cho chúng ta được sống yên bình và thành công trong việc tạo ra những thế hệ tương lai tài giỏi cho nhân loại dù bạn thuộc bất kỳ chủng tộc nào.

Bổ sung: Theo truyền thống người Do Thái, những học giả, nhà khoa học được khuyến khích kết hôn với con gái của những thương nhân vì theo họ, con cái sinh ra sẽ là sự kết hợp của cả giáo dục hàn lâm và giáo dục thực tế. Chính sự coi trọng thương nhân và kinh doanh cũng như học vấn đã đưa họ lên vị trí hàng đầu trên thế giới và khiến cả thế giới ngả mũ cúi đầu. (khác hẳn với văn hóa 'sỹ, nông, công, thương' của VN và Châu Á). Những chính sách của Hoa Kỳ trước đây và của Obama hiện tại cũng đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tài phiệt người Do Thái."
 (Theo: iqtest.vn)

Chú thích:

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2016

Ảnh hưởng của giá dầu 30 USD/thùng tới nền kinh tế Việt Nam

Cú sốc giảm giá dầu có thể ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế Việt Nam năm tới, song chưa chắc đã là điều bất lợi trong trung hạn.

Giá dầu thế giới liên tục lao dốc từ đầu tháng 12, hiện về sát 35 USD một thùng, giảm 33% từ đầu năm. Đây cũng là mức thấp nhất của dầu thô thế giới hơn 10 năm nay. Trước những diễn biến khó lường của giá năng lượng, ban Kinh tế thế giới thuộc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã đưa ra các kịch bản kinh tế khi giá dầu giảm về ngưỡng 30, 40 và 50 USD một thùng.
kinh-te-viet-nam-ra-sao-khi-gia-dau-ve-30-usd-mot-thung
Giá dầu giảm tác động nhiều chiều tới kinh tế Việt Nam, cả tiêu cực lẫn tích cực.
"Việc giá dầu thế giới giảm có tác động nhiều chiều tới kinh tế Việt Nam. Một mặt, nguồn thu từ dầu mỏ giảm do Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô. Nhưng mặt khác, do cũng nhập khẩu dầu thành phẩm để phục vụ sản xuất và tiêu thụ trong nước nên giá dầu giảm cũng giúp cho Việt Nam giảm chi phí nhập khẩu dầu, đồng thời chi phí đầu vào đối với sản xuất trong nước giảm giúp thúc đẩy hoạt động sản xuất", cơ quan này nhận định.
Cụ thể, ở kịch bản giá dầu về mức thấp kỷ lục 30 USD một thùng, trung tâm này cho rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2016 sẽ giảm 1,36% so với cùng kỳ năm trước, chung cảnh ngộ với các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn như Nga, Na Uy, Trung Đông, châu Phi. Lạm phát âm gần 4% do dầu là yếu tố đầu vào sản xuất nhiều loại hàng hóa. Tuy nhiên, cán cân thương mại được hỗ trợ lớn khi kim ngạch xuất khẩu tăng thêm 1,52% do kinh tế của các quốc gia là đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam được cải thiện, chi phí nhập khẩu giảm 1,84%.
Tác động của việc giá dầu giảm về 30 USD một thùng tới kinh tế vĩ mô Việt Nam năm sau so với năm trước (Đơn vị: điểm %)
 
Tốc độ tăng trưởng
Xuất khẩuNhập khẩuTỷ giá thựcLạm phát
2016-1,361,52-1,844,04-3,95
20171,412,122,095,211,61
20180,591,071,665,880,4
20190,671,091,9460,77
20200,630,761,945,450,98
Nguồn: tính toán của nhóm nghiên cứu Ban kinh tế thế giới (NCEIF)
Nếu giá dầu xuống mức 40 USD, so với cùng kỳ năm trước, tăng trưởng kinh tế năm tới giảm 0,85% trong năm 2016. Cú sốc này cũng khiến kinh tế Việt Nam đối mặt với giảm phát (lạm phát âm 2,52%), xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm.
Với kịch bản 50 USD, tăng trưởng kinh tế giảm 0,42% trong năm tới, lạm phát giảm 1,11%.
Tuy nhiên, từ năm 2017 trở đi, khi tăng trưởng thế giới hồi phục, nền kinh tế Việt Nam cũng hồi phục dần ở ba kịch bản. Giá dầu giảm cũng tác động lên tỷ giá hối đoái đa phương, được nhóm nghiên cứu dự báo tăng thấp nhất 1,26% và cao nhất là 6% khi đồng USD mạnh lên.
Từ việc đánh giá tác động của ba kịch bản giá dầu trên tới kinh tế Việt Nam, tiến sĩ Lương Văn Khôi - Trưởng ban Kinh tế thế giới khuyến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi sát sao diễn biến giá dầu và chính sách của các nước đối tác kinh tế lớn để điều chỉnh tỷ giá hợp lý, có những biện pháp bổ trợ như nới lỏng tiền tệ để kích thích tăng trưởng, giảm giá xăng dầu để thúc đẩy ngành sản xuất tăng trưởng và cải cách hệ thống thuế để đảm bảo nguồn thu hoặc bù đắp phần suy giảm do tác động của giá dầu thế giới giảm.
Đồng thời, Việt Nam cần nắm bắt cơ hội này để tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó chú trọng đến khu vực kinh tế thực và cải cách thể chế một cách sâu rộng để tạo môi trường, tiền đề tốt cho nền kinh tế cất cánh.
Trước việc giá dầu thô liên tiếp sụt giảm, trả lời trên VTV tối 13/12, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn khẳng định đây là điều đã được cơ quan quản lý dự liệu. "Chúng tôi đã xây dựng các phương án rất cụ thể, không chỉ là những kịch bản cho giá dầu ở mức 60, 50, 45 USD mỗi thùng mà trường hợp 40, 35 thậm chí 30 USD một thùng cũng đã được tính toán", ông nói.
Ông cũng cho biết giá dầu giảm sẽ khiến tiết kiệm được chi phí nhập khẩu xăng dầu. Dự kiến năm 2016, Việt Nam nhập khẩu khoảng 12,5-13 triệu tấn xăng dầu, và nếu mức giá dầu thô vẫn giữ nguyên 36 USD thì sẽ tiết kiệm được 2-2,1 tỷ USD.
Huyền Thư

Nobel 2013 cho các nghiên cứu về dự báo giá chứng khoán

Hiếm có giải Nobel kinh tế nào khiến phố Wall hào hứng như giải của năm nay. Các hãng tin lớn của phố Wall đều chạy các bài dài về 3 nhà kinh tế được giải và các công trình của họ. Theo Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, 3 tên tuổi lớn được trao giải của năm nay là Eugene Fama, Lars Peter Hansen (đều đến từ Đại học Chicago) và Robert Shiller (đến từ Đại học Yale).Lý do khiến giới tài chính hào hứng là vì cả ba vị khôi nguyên của năm nay đều đến từ một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phố Wall là kinh tế học về tài chính(financial economics) và cụ thể là định giá thực nghiệm(empirical asset pricing). Các công trình của các vị tân khôi nguyên này, theo đánh giá của Wall Street Journalđã tạo nên sự tiến hóa trong lĩnh vực quản trị danh mục và định giá chứng khoán, và đi đầu trong việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của cảm xúc trong các quyết định đầu tư.
 
Tại sao cần định giá và dự báo giá
 
Giao dịch trên thị trường tài chính, xét cho cùng, cũng là các giao dịch mua bán tài sản, và vì thế việc định giá luôn là yếu tố cốt lõi mà các bên tham gia thị trường quan tâm. Từ phương diện thực tiễn, định giá chỉ đơn thuần là xem xét hoặc đánh giá xem một miếng đất hoặc một công ty có giá trị là bao nhiêu. Trong trường hợp này, đa số chúng ta sẽ nhờ chuyên gia phân tích và định giá, hoặc so sánh với những tài sản tương tự, hoặc đơn giản là dựa vào kinh nghiệm của bản thân. Nếu dự báo đúng, chúng ta sẽ làm ra tiền; còn nếu dự báo sai đương nhiên sẽ phải chịu lỗ.  
 
Trong kinh tế học về tài chính, định giá mang một ý nghĩa bao quát hơn. Thứ nhất, định giá xem xét những nhân tố tác động tới biến động về giá trị của tài sản. Ví dụ, một công ty có giá trị là 100 đồng. Thay vì xem xét tại sao công ty có giá trị là 100 đồng, kinh tế học tài chính sẽ xem xét những nhân tố nào tác động tới việc giá trị của công ty đó tăng lên hoặc giảm đi 10%. Thứ hai, định giá đồng nghĩa với việc dự báo giá. Về mặt lý thuyết, nếu chúng ta có thể hiểu được các nhân tố tác động tới biến động giá thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta có thể dự báo được giá trong tương lai bằng cách dự báo các nhân tố. Các nhân tố điển hình đã được nghiên cứu nhiều bao gồm các nhân tố vĩ mô như biến động lạm phát, biến động lãi suất ngắn hạn, tỉ lệ thất nghiệp v.v. (Chen, Roll and Ross) các nhân tố vi mô như quy mô công ty, mức độ rủi ro, thanh khoản v.v. (Basu; Banz; Fama and French).
 
Tuy nhiên, cản trở lớn nhất trong định giá thực nghiệm là phương pháp kiểm chứng. Và cản trở lớn nhất trong kiểm chứng là làm thế nào tránh được các tác động kép giữa các nhân tố và giữa thời điểm và do đó sẽ ảnh hưởng tới giá trị dự báo. Ví dụ, tác động giá hôm qua đến giá ngày hôm nay, tác động giá ngày hôm qua đến lãi suất ngày hôm nay v.v. 
 
Sau hơn 50 năm nghiên cứu, cộng đồng khoa học trong kinh tế tài chính đã khá là đồng lòng rằng biến động giá hầu như không dự báo được (returns are unpredictable). Tuy nhiên, có hai trường phái lý giải: học thuyết kỳ vọng hợp lý và học thuyết tài chính hành vi.       
Kỳ vọng hợp lý và sự ra đời của chiến lược đầu tư chỉ số
 
Người lớn tuổi nhất trong số 3 vị tân khôi nguyên, giáo sư Eugene Fama, được coi là cha đẻ của khoa học tài chính hiện đại và học thuyết thị trường hiệu quả (efficient market hypothesis). Công trình  được trao giải năm nay được ông khai sinh từ những năm 60 của thế kỷ trước, và nó bắt nguồn từ một thất bại cá nhân. Từng tham gia mua bán cổ phiếu, và không mấy thành công, Fama dựa trên học thuyết chính thống của kinh tế học là học thuyết vềkỳ vọng hợp lý (rational expectation), để mô hình hóa sự biến động của giá chứng khoán.
 
Theo học thuyết về kỳ vọng hợp lý, bản chất của con người là duy lý, tức là các quyết định của họ không bị chi phối của cảm xúc. Họ tiếp thu các thông tin trên thị trường, và ngay lập tức đưa các thông tin này vào quyết định giá cả và tạo ra một mặt bằng giá. Cụ thể là những thông tin lịch sử như biểu đồ giá (weak form efficiency) và những thông tin ngay tức thì như công bố kết quả kinh doanh (semi-strong form) sẽ được thị trường và các trader biết ngay tức thì. Do đó bất cứ thông tin nào mới có ảnh hưởng tới một chứng khoán, thông tin này lại ngay lập tức được phản ánh vào một mặt bằng giá mới. Vì thế, theo ông, bản chất của thị trường tài chính là thị trường rất hiệu quả, không có lý do gì, và không ai có thể “thắng” được thị trường.
 
Theo Peter Englund, giáo sư ngân hàng của Trường Kinh tế Stockholm và là thư ký của Ủy ban Nobel Kinh tế, “nghiên cứu của Fama cho thấy rằng sẽ cực kỳ khó để thắng được thị trường, và cực kỳ khó để dự báo giá trong thời gian một ngày hay một tuần” và “nó cho thấy không có bất cứ lý do gì để một cá nhân bình thường tham gia vào việc phân tích giá chứng khoán. Thay vào đó, nên đầu tư vào một danh mục rộng gồm nhiều loại chứng khoán khác nhau.”
 
Ảnh hưởng của các phân tích này vô cùng lớn. Nó khiến các traders phải xem xét lại về chiến lược đầu tư của mình và góp phần hình thành các phương pháp đầu tư mới cho thị trường. Theo Wall Street Journal, chính các công trình này của Fama là một trong những nhân tố chủ chốt để hình thành hệ thống các quỹ đầu tư chỉ số (index fund) hay còn gọi là ETF (Exchange Traded Fund). Những quỹ đầu tư này cũng phản ánh triết lý và học thuyết đầu tư của ông rằng: nếu không thắng được thị trường thì bám theo thị trường.
 
Thị trường không hoàn hảo, bong bóng, và tài chính hành vi
 
Đối lập với Eugene Fama, Robert Shiller lại thấy thị trường rất không hoàn hảo. Bắt đầu bằng công trình “Phải chăng giá chứng khoán lại dao động quá mạnh và không giải thích được bằng sự thay đổi của cổ tức diễn ra sau đó?” (“Do Stock Prices Move Too Much to Be Justified by Subsequent Changes in Dividends?”) xuất bản năm 1981 trên tạp chí American Economic Review, ông đã “tuyên chiến” với học thuyết thị trường hoàn hảo của Eugene Fama.
 
Trong nghiên cứu này, ông đã chỉ ra rằng giá chứng khoán biến động quá mạnh và không giải thích được bởi sự thay đổi của dòng thu nhập đến từ các chứng khoán đó. Nếu giải thích rằng thị trường là duy lý, thì giá chứng khoán phải bằng với kỳ vọng hợp lý của dòng thu nhập này. Vì thế, học thuyết thị trường hoàn hảo là có vấn đề, và rõ ràng là các thị trường chứng khoán “luôn có khuynh hướng ngả theo các xáo trộn không duy lý”.
 
Công trình này của ông được American Economic Review xếp hạng năm 2011 là một trong 20 công trình có ảnh hưởng lớn nhất từng được xuất bản, bên cạnh các công trình khác của các khôi nguyên Nobel trước đây nhưMilton Friedman, Joseph Stiglitz, Friedrich Hayek và Paul Krugman.
 
Từ nghiên cứu đầu tiên này, Robert Shiller đã đi tiên phong trong việc phân tích các yếu tố “không duy lý” của con người trong việc ra quyết định. Vi dụ, đa số nhà đầu tư và trader sẽ sốt ruột và muốn bán cổ phiếu lúc giá cổ phiếu đó đang lên; trong khi đó nhà đâu tư sẽ không chịu cắt lỗ và quyết tâm ôm cổ phiếu đó hoặc mua thêm lúc giá cổ phiếu đang xuống. Việc này thể hiện tâm lý “sợ rủi ro lúc thắng nhưng sẵn sàng đánh bạc lúc thua” trong tiềm thức con người. Ngoài ra Shiller cũng dùng nhiều nghiên cứu từ ngành tâm lý học để cho thấy rằng quyết định đầu tư của nhà đầu tư bị ảnh hưởng rất nhiều bởi hành vi của những người xung quanh. Việc này sẽ tạo ra tâm lý bầy đàn vàthổi biến động giá xa khỏi mức giá mà kỳ vọng hợp lý dự báo. Các nghiên cứu của ông đã đặt nền móng cho nhánh khoa học tài chính sau này hay được gọi là tài chính hành vi (behavior finance). Đây là một lĩnh vực tương đối mới và vẫn còn trong giai đoạn phát triển bùng nổ.
 
Theo giáo sư Peter Englund, “các nghiên cứu của Shiller cho thấy có những giai đoạn các tài sản bị định giá quá cao. Shiller đã cảnh báo từ những năm 1990 khi giá cổ phiếu ngành công nghệ thông tin tăng mạnh, rằng nó không bền vững trong dài hạn, và ông đã đúng. Ông cũng cảnh báo trước nhiều năm về tình trạng bong bóng bất động sản ở Mỹ. Và ông cũng đã đúng”.
 
Khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra năm 2008, Shiller đã nói rằng nó “phản ánh các sai lầm và các điểm bất hoàn hảo của hệ thống tài chính mà chúng ta đang cố gắng sửa chữa. Tôi cho rằng còn rất nhiều thứ phải làm. Tôi cho rằng nó sẽ mất nhiều thập kỷ. Nhưng chúng ta đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử và chúng ta thường học hỏi được từ các cuộc khủng hoảng như vậy”.
 
Rõ ràng, các nghiên cứu của Shiller về sự bất duy lý của con người khi ra quyết định, và vì thế, sự bất hoàn hảo của thị trường, chính là các điểm xuất phát về lý thuyết cực kỳ quan trọng để các nhà quản lý hiểu hơn về thị trường và đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp. Từ đó mới mong kiểm soát được các “cơn điên loạn bất duy lý” của thị trường và tránh được các đổ vỡ đáng tiếc mà chúng gây ra.
 
Cách mạng trong phương pháp phân tích định lượng
 
Bất kể là biến động giá có dự báo được hay không hoặc bị tác động bởi những nhân tố nào thì người nghiên cứu cũng cần phải có phương pháp kiểm chứng giả thuyết của mình. Nếu không có phương pháp kiểm chứng khoa học, và dựa vào đó chứng minh được là giả thuyết của mình là đúng, thì giả thuyết chỉ là giả thuyết và chưa được thực tiễn công nhận.
 
Vì thế, cả Eugene Fama và Robert Shiller đều phải dựa vào các phương pháp kiểm chứng định lượng để chứng minh giả thuyết của mình. Và ở đây nảy sinh vai trò nổi bật của vị khôi nguyên thứ ba, giáo sư Lars Peter Hansen.
 
Để kiểm chứng một giả thuyết, thí dụ như VnIndex biến động theo một tập hợp các biến số như lạm phát, thất nhiệp, mức độ thâm hụt thương mại, kiều hối… dưới dạng một phương trình toán nào đó, người ta sẽ cần các phương pháp ước lượng (estimation method) và phương pháp kiểm chứng (test). Các nhà kinh tế lượng (econometrician) là những người phải nghĩ ra các phương pháp ước lượng và các phương pháp kiểm chứng kết quả ước lượng được. Trước Lars Peter Hansen, đã có nhiều phương pháp, thí dụ như OLS (ordinary least square) hay MLE (maximum likelihood).
 
Tuy nhiên, vấn đề của các phương pháp ước lượng và các phương pháp kiểm chứng là chúng đều phải dựa trên các giả định nhất định về đặc điểm của các chuỗi số liệu. Các phương pháp cổ điển như OLS và MLE đều dựa trên các giả định rất chặt. Vì thế, nếu số liệu không có được các đặc điểm này thì các phương pháp OLS và MLE không thể tạo ra các ước lượng tốt, hay nói cách khác là không dùng được.
 
Vấn đề trong các nghiên cứu của Shiller và Famma là chúng đều phải dùng đến các chuỗi số liệu theo thời gian (time series data) nếu muốn kiểm chứng với thực nghiệm. Đó là các chuỗi ghi lại các giá trị của các biến số tại nhiều thời điểm trong quá khứ (thí dụ một chuỗi số liệu theo tháng về lạm phát trong vòng 10 năm). Các chuỗi số liệu kiểu này này có hai vấn đề rất lớn là có hiện tượng liên quan giữa các sai số theo thời gian (serial correlation) và mối liên quan giữa các biến số cần giải thích và những nhân tố khác không quan sát được.
 
Vì hai khuyết điểm này, các phương pháp hồi quy truyền thống dùng để kiểm chứng giả thuyết như OLS và MLE đều không chính xác và đưa đến những kết quả ước lượng sai lệch, không nhất quán.
 
Trong một công trình của mình viết từ ngày còn là nghiên cứu sinh, giáo sư Lars Peter Hansen đã phát triển ra phương pháp gọi là GMM (Generalized Method of Moments). Phương pháp này cho phép nhà thực nghiệm đơn giản hóa giả định và vẫn đưa ra kết quả nhất quán kể cả trong trường hợp số liệu bị hai khuyết điểm trên. Ngoài ra phương pháp GMM cũng là cầu nối trực tiếp giữa thực nghiệm và học thuyết tiêu dùng trong kinh tế vi mô.
 
Trong trường hợp số liệu đủ lớn và các giả định chặt chẽ như OLS thì kết quả giữa GMM và OLS hay Maximum Likelihood sẽ giống nhau. Do đó, OLS hay Maximum Likelihood chỉ đơn thuần là dạng phương trình đặc biệt của GMM. Chính vì những lý do trên và trong môi trường số liệu thực tế ít hơn số liệu lý thuyết đòi hỏi (kể cả đối với thị trường Mỹ hay Việt Nam), GMM là ánh sáng trong đường hầm đối với các nhà nghiên cứu tài chính thực nghiệm, bất kể họ đi theo trường phái kỳ vọng hợp lý của Fama hay trường phái hành vi của Shiller. Và điều này giải thích vì sao Hansen lại nằm trong bộ ba được giải Nobel của năm nay.
 
Ảnh hưởng lớn
 
Thị trường tài chính hiện đại có thể coi là thị trường quan trọng nhất và có ảnh hưởng quyết định, tức thì, đến mọi mặt của đời sống kinh tế thế giới. Vì thế, việc nghiên cứu về nó, hiểu biết nó, tìm cách kiểm soát tính bất duy lý của nó, và điều tiết nó một cách khôn ngoan, là việc cực kỳ hệ trọng.
 
Như đã chỉ ra ở trên, có thể nói cả ba hướng nghiên cứu tách biệt nhau của ba tân khôi nguyên Nobel kinh tế năm nay đều tạo ra những chấn động và dấu mốc vĩnh cửu trong khoa học kinh tế và tài chính, trong phân tích, tư vấn, và quyết định chính sách, và trong hoạt động cũng như tiến hóa của thị trường tài chính thế giới. Những đóng góp này là thực sự đáng, và đúng ra là đã hơi trễ, để được Ủy ban Nobel vinh danh và nhân loại biết đến.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2015

Tổng hợp các phương thức thanh toán quốc tế

Phương thức thanh toán

Có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau trong thanh toán quốc tế. Dưới đây là một số phương thức thanh toán cơ bản thường được áp dụng trong mua bán ngoại thương (sắp xếp theo mức độ rủi ro tăng dần về phía người bán): 

 Trả trước, Điện chuyển tiền (T/T)
 Thư tín dụng (L/C)
 Nhờ thu trả chậm (documents against acceptance - viết tắt: D/A)
 Nhờ thu trả ngay (Documents against Payment - viết tắt: (D/P)
 Thanh toán Ghi sổ.

Với người bán, họ quan tâm nhất là việc người mua thanh toán đầy đủ và đúng thời hạn, cho nên rủi ro là vấn đề mà họ lưu tâm nhiều nhất. Một trong những yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro là biết rõ có những rủi ro gì. Vì thế, bạn nên hỏi ý kiến ngân hàng để nhờ họ tư vấn lựa chọn phương thức thanh toán hợp lí nhất cho từng lần giao dịch mua bán cụ thể.

Trả trước: đây có lẽ là phương thức thanh toán mong muốn nhất của người bán vì họ không phải chịu sức ép về rủi ro phát sinh và có thể thu được tiền hàng ngay nếu sử dụng phương thức điện chuyển tiền. Tuy nhiên, phương thức này gây nhiều khó khăn về dòng tiền và tăng rủi ro cho người mua cho nên thông thường họ ít khi chấp nhận trả tiền trước khi nhận được hàng.

Để đảm bảo lợi ích cho cả hai bên, bạn nên thỏa thuận với người mua về phương thức thanh toán. Trong trường hợp người mua không chấp nhận thanh toán toàn bộ tiền hàng trước khi vận chuyển, để giảm bớt rủi ro, bạn có thể cân nhắc đến phương thức trả ngay từng phần. Để giảm thiểu rủi ro, trong hợp đồng ngoại thương có thể qui định như sau: “người mua phải trả cho người bán 30% tiền hàng sau khi hợp đồng được ký kết; phần còn lại sẽ được thanh toán khi người mua nhận được bản copy bộ chứng từ gửi hàng” hoặc “người mua phải trả cho người bán 30% tổng giá trị hợp đồng sau khi hai bên ký kết hợp đồng; phần còn lại sẽ được thanh toán bằng thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận”.

Thư tín dụng (L/C): Do phương thức trả tiền ngay mang lại nhiều rủi ro cho người mua (có thể người xuất khẩu không chuyển hàng ngay cả khi đã được thanh toán) nên trong hoạt động mua bán quốc tế, thư tín dụng được sử dụng phổ biến hơn nhằm bảo đảm lợi ích cho cả hai bên. Theo đó, việc thanh toán chỉ được ngân hàng chấp nhận sau khi người bán đã xuất trình đầy đủ bộ chứng từ. Xét về thời gian thực hiện, thư tín dụng có thể là trả ngay (at sight), hoặc trả sau. 

Thư tín dụng thường được chia thành các loại sau: thư tín dụng có thể hủy ngang hoặc không hủy ngang, thư tín dụng có xác nhận hoặc không có xác nhận. Thư tín dụng không hủy ngang (irrevocable L/C) là loại thư tín dụng mà trong thời hạn hiệu lực của nó, ngân hàng mở (tức ngân hàng của người mua) hoặc người mua không có quyền hủy bỏ hay sửa đổi nội dung thư tín dụng nếu không có sự đồng ý của người xuất khẩu (người bán). Thư tín dụng hủy ngang (revocable L/C) là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ vào bất cứ lúc nào mà không cần sự chấp thuận của người bán. Trong thư tín dụng có xác nhận, ngân hàng cam kết trực tiếp trả tiền hàng cho người bán. Còn đối với thư tín dụng không xác nhận, người xuất khẩu có được thanh toán hay không phụ thuộc vào ngân hàng nước ngoài. 
Dưới đây là trình tự tiến hành thông thường khi thanh toán sử dụng phương thức thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable Letter of Credit) của một ngân hàng Mỹ :

1. Sau khi thống nhất về các điều kiện bán hàng và ký kết hợp đồng, người nhập khẩu làm đơn gửi đến ngân hàng của mình xin mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.

2. Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập một thư tín dụng không hủy ngang, bao gồm tất cả những chỉ dẫn cho người bán liên quan đến việc vận chuyển hàng.

3. Sau đó, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ gửi thư tín dụng cho một ngân hàng ở Mỹ, yêu cầu ngân hàng này xác nhận. Ngân hàng Mỹ này có thể do người xuất khẩu chỉ định hoặc do ngân hàng mở L/C lựa chọn chi nhánh của mình tại Mỹ làm ngân hàng xác nhận.

4. Ngân hàng Mỹ sẽ gửi thư xác nhận cùng với thư tín dụng không hủy ngang cho người xuất khẩu.

5. Người xuất khẩu sau khi xem xét cẩn thận các điều khoản ghi trong thư tín dụng, sẽ ký hợp đồng vận tải đảm bảo hàng sẽ được chuyển đến đúng thời hạn. Nếu người xuất khẩu không đồng ý với bất kỳ một điều kiện nào thì phải thông báo ngay cho người mua biết để kịp thời điều chỉnh.

6. Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng đến đúng cảng hoặc sân bay quy định.

7. Khi hàng đã được xếp lên tàu/ máy bay, người xuất khẩu phải có nghĩa vụ hoàn chỉnh bộ chứng từ gửi hàng theo yêu cầu của thư tín dụng.

8. Sau đó, người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ đó cho ngân hàng Mỹ.

9. Ngân hàng kiểm tra chứng từ nếu không có gì trục trặc sẽ thông báo kết quả kiểm tra cho ngân hàng người nhập khẩu. Ngân hàng này sau khi kiểm tra nếu thấy bộ chứng từ đã hoàn chỉnh thì gửi cho người nhập khẩu.

10. Người nhập khẩu (hoặc đại lý của họ) sẽ nhận những chứng từ cần thiết để tiến hành thủ tục nhập hàng.

11. Nếu có hối phiếu đi kèm với thư tín dụng thì hối phiếu đó sẽ được ngân hàng người xuất khẩu thanh toán vào thời gian đã thoả thuận hoặc sẽ được chiết khấu trước đó.

Ngay sau khi nhận được thư tín dụng, người xuất khẩu nên kiểm tra cẩn thận các điều khoản trong thư tín dụng với những nội dung được đề cập trong hóa đơn chiếu lệ. Điều này cực kỳ quan trọng vì các điều khoản cần phải phù hợp với nhau, nếu không thư tín dụng sẽ không có hiệu lực và người xuất khẩu sẽ không được thanh toán. Nếu các điều khoản không phù hợp hoặc có bất kì thông tin gì sai lệch, người xuất khẩu phải liên lạc ngay với khách hàng và yêu cầu họ điều chỉnh thư tín dụng cho phù hợp.

Người xuất khẩu cũng phải xuất trình bộ chứng từ chứng minh đã giao hàng đúng thời hạn qui định trong thư tín dụng vì nếu không sẽ không được thanh toán tiền hàng. Người xuất khẩu nên kiểm tra, liên lạc với công ty vận tải để đảm bảo không có sự cố bất ngờ làm trì hoãn việc chuyển hàng. Ngoài ra, người xuất khẩu cũng phải xuất trình bộ chứng từ đúng thời hạn ghi trong L/C để làm thủ tục thanh toán. 

Phương thức nhờ thu (D/A và D/P): một phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ tiền hàng của người nhập khẩu trên cơ sở xuất trình chứng từ. Ngân hàng người bán (người xuất khẩu) xuất trình bộ chứng từ cho người mua (người nhập khẩu) thông qua ngân hàng của người mua để được thanh toán số tiền hàng còn lại hoặc nhận được chấp nhận thanh toán hối phiếu trả chậm vào một thời gian xác định trong tương lai. Trách nhiệm pháp lý của ngân hàng theo phương thức nhờ thu sẽ bị ràng buộc theo sự chỉ dẫn của người bán trong việc phát hành và gửi các chứng từ. Trách nhiệm đó sẽ thay đổi trong hai trường hợp “nhờ thu chấp nhận chứng từ” (documents against acceptance - viết tắt: D/A) hoặc “nhờ thu đổi chứng từ” (Documents against Payment - viết tắt: (D/P).

Không giống như phương thức thư tín dụng, với phương thức nhờ thu, ngân hàng sẽ không phải chịu trách nhiệm ràng buộc nếu người mua không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán tiền hàng. Nếu xét về phía người xuất khẩu thì mức độ an toàn khi sử dụng phương thức nhờ thu cao hơn so với phương thức ghi sổ nhưng thấp hơn so với phương thức sử dụng tín dụng thư. Quy trình thực hiện của phương thức nhờ thu diễn ra như sau:

1. Người mua (người nhập khẩu) và người bán (người xuất khẩu) thống nhất với nhau về điều kiện bán hàng, ngày giao hàng … và thanh toán sử dụng phương thức nhờ thu.

2. Người xuất khẩu chuẩn bị giao hàng tới cảng/ sân bay đến qui định.

3. Người xuất khẩu gửi hàng đến địa điểm đến qui định và chuẩn bị bộ chứng từ cần thiết. 

4. Người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ xuất khẩu và gửi chỉ dẫn tới ngân hàng của mình.

5. Theo chỉ dẫn của người xuất khẩu, ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ và chuyển cho ngân hàng người nhập khẩu.

6. Ngân hàng người nhập khẩu, sau khi nhận được bộ chứng từ, liên hệ với người nhập khẩu và yêu cầu thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hối phiếu từ phía người nhập khẩu.

7. Sau đó, ngân hàng sẽ chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu để làm thủ tục nhận hàng.

8. Ngân hàng người nhập khẩu sẽ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng người xuất khẩu hoặc gửi thông báo rằng hối phiếu đã được chấp nhận.

9. Sau khi nhận được tiền hàng, ngân hàng người xuất khẩu sẽ ghi có vào tài khoản của người xuất khẩu.

Phương thức ghi sổ: 
người xuất khẩu mở một tài khoản để ghi nợ người nhập khẩu yêu cầu người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu vào thời điểm xác định trong tương lai. Phương thức này chỉ thuận tiện và an toàn trong trường hợp hai bên thực sự tin cậy lẫn nhau, đã mua bán hàng nhiều lần và người mua có uy tín thanh toán. 

Tuy nhiên, sử dụng phương thức ghi sổ có rất nhiều rủi ro. Người xuất khẩu sẽ rất khó khiếu nại do không có sự tham gia của Ngân hàng và các chứng từ của ngân hàng. Là người xuất khẩu, bạn có thể phải thu tiền hàng ở nước ngoài, mà việc này rất khó và tốn nhiều chi phí. Ngoài ra, việc theo dõi và xử lí các khoản phải thu gặp rất nhiều khó khăn do không sử dụng hối phiếu hay bất kì chứng từ ghi nợ nào.

Lưu ý, đối với tất cả các phương thức thanh toán nói trên, bạn nên nêu rõ điều khoản là đối tác (người mua) phải chịu chi phí chuyển tiền của ngân hàng trong hợp đồng ngoại thương.

Bảng tóm tắt ưu và nhược điểm của các hình thức thanh toán trong nghiệp vụ mua bán quốc tế: 
[​IMG]

Điều khoản thanh toán nào được áp dụng phụ thuộc khá nhiều vào sự hiểu biết và mối quan hệ giữa bạn và đối tác mua hàng. Nhìn chung, phương thức nhờ thu và ghi sổ thường được dùng khi: (1) hai bên thực sự tin cậy lẫn nhau, (2) người mua sẵn sàng thanh toán và có khả năng thanh toán, (3) điều kiện kinh tế và chính trị của nước người mua ổn định và (4) chính phủ nước người mua không có những biện pháp kiểm soát ngoại hối. Khi làm ăn với khách hàng mới, bạn nên đề nghị sử dụng phương thức trả trước bằng tiền mặt hoặc phương thức thư tín dụng (thường là Thư tín dụng không huỷ ngang trả tiền ngay có xác nhận) mặc dù dùng L/C có thể phí ngân hàng cao hơn rất nhiều. 

Dưới đây là một số dịch vụ thanh toán quốc tế do một số Ngân hàng tại Việt Nam cung cấp:
[​IMG]

( Nguồn: VIETRADE/ITC/WTO/UNCTAD )