domain, domain name, premium domain name for sales
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN SẼ BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN DOWNTREND TRUNG HẠN


Thị trường tài chính được ví như phong vũ biểu cho nên kinh tế, nó phản đánh trước những diễn biến thực tế về kết quả của nền kinh tế và của doanh nghiệp.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trãi qua hơn 15 năm thăng trầm cùng nền kinh tế, và cũng đã đi qua cuộc khủng hoảng tài chính 2008 với kết cục khá bị thương. Nhưng kết cục bi thương này lại sảy ra cùng theo nhịp điệu khủng hoảng của Thế giới làm chúng ta không khỏi ngạc nhiên hỏi rằng “thị trường tài chính Việt Nam đã hội nhập với Thế giới đến mức nào?”

Nếu các bạn hình dung thế giới tài chính là một thể thống nhất, thì các bạn cần biết rằng để tạo được thể thống nhất đó thì những nhà tài phiệt, nhưng quốc gia thống trị họ đã phải nghĩ ra những công cụ tài chính tối ưu đến mức nào, để từ đó ép buộc các quốc gia khác phải áp dụng.
Bài viết này tôi tập trung vào các cơ chế chính trong việc hình thành một thế giới tài chính thống nhất thông qua các tiêu chuẩn Basel cho hệ thống ngân hàng và các tiêu chuẩn IAS/IFRS trong việc lập và trình bày các báo cáo tài chính. Từ đó tôi nhận thấy có một mối liên hệ giữa khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế này.


  1. Các tiêu chuẩn tài chính ngân hàng

    Nhắc tới các tiêu chuẩn này không ai có thể phủ nhật sức mạnh tuyệt vời và sự tối ưu của các quy định như Basel và IAS/IFRS. Chúng thể hiện hệ thống các tiêu chuẩn quy định cho các ngân hàng và các tiêu chuẩn trong việc thực hiện và báo cáo của các công ty trên toàn thế giới.
    *      Tóm lược sơ qua về Basel: Ủy ban Basel được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel Thụy Sỹ để Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS), ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80.
    -          Năm 1988, BCBS (Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng) đã giới thiệu một khung rủi ro tín dụng (Basel I) xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính.
    -          Năm 2004, Basel 2 được áp dụng để đáp ứng các yêu cầu của phát triển liên tục trong ngành ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi để khắc phục những hạn chế trong Basel 1.
    -           Cuối năm 2009, bản mới nhất của Basel 3 cũng được giới thiệu nhằm  khắc phục một số thiếu sót cơ bản của Basel II về phí vốn thanh khoản, quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng và bản chất có tính chu kỳ của nó.
    -          Các phiên  bản  mở rộng của Basel 3 tiếp tục được soạn thảo và các thời gian áp dụng được tính theo lô trình, yêu cầu bắt buộc đối với các ngân hàng quốc tế lớn từ năm 2014 và tiếp tục có một bản sữa đổi sắp có hiệu lực vào năm 2018.
    *      Tóm lược về IAS van IFRS:
    -          IAS (International Accounting Standards) là bộ chuẩn mực kế toán quốc tế được xây dựng bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế IASC (International Accounting Standards Committee) trong giai đoạn từ 1973 đến 2000.
    -          IFRS (International Financial Reporting Standards) là bộ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được xây dựng bởi Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế IASB (International Accounting Standards Board) từ năm 2011. Mục đích là để từng bước thay thế các IAS cho phù hợp với những thay đổi mới, theo kịp với tình hình mới khi môi trường kinh tế tài chính, cũng như hoạt động của DN có những biến đổi và phát sinh nhiều hoạt động mới.


    1. Việt Nam áp dụng các tiêu chuẩn này như thế nào?

      Nhận thức được tầm quan trọng của hội nhập và các tiêu chuẩn tối ưu hóa của hệ thống báo cáo tài chính toàn cầu, Việt Nam đã và đang từng bước xây dựng lộ trình áp dụng các tiêu chuẩn này.
      *      Đối với hoạt động ngân hàng:
      Cơ chế Basel (Basel 1, Basel 2, Basel 3) đã và đang được nghiên cứu thực hiện đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với một quốc gia mới bắt đầu hội nhập thì việc chuyển đổi từ các tiêu chuẩn riêng biệt thành tiêu chuẩn chung khó tránh khỏi các cú sốc, do đó việc thực hiện có lộ trình là việc làm cần thiết. NHNN đã có nhưng bước đi trong những năm gần đây để chuẩn bị cho việc Việt Nam áp dụng Basel như sau:
      Thông tư 15/2009/TT-NHNN ngày 10/8/2009 của NHNN ban hành Quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn
      Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 đã ban hành quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
      + Và gần đây là Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tuy chưa thực sự chuẩn hóa theo Basel nhưng có thể là bước tiến đáng kể cải thiện hệ thống ngân hàng sau khủng hoảng tài chính 2008 và từng bước chuẩn bị để chuẩn hóa theo Basel.
      Thự tế sau gần 10 năm kể từ khi ra nhập WTO thì Việt Nam cũng mới bắt đầu thực hiện thí điểm tiêu chuẩn Basel 2 với 10 ngân hàng hàng đầu Việt Nam gồm: BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB.
      *      Đối với hệ thống báo cáo tài chính thì:
      Trong quá trình hội nhập quốc tế để thu hút được dòng vốn nước ngoài vào đầu tư thì việc thể hiện cho NĐT nước ngoài thấy về sự minh bạch trong hệ thống báo cáo tài chính là rất cần thiết. Tuy nhiên, sau gần 10 năm ra nhập WTO thì hệ thống báo cáo tài chính của Việt Nam vẫn quá khác lạ so với tiêu chuẩn thế giới. Hơn nữa, việc không minh bạch trong nhiều khoản mục báo cáo, và những tiêu chuẩn Việt nam hóa đã tạo ra rất nhiều kẽ hở cho các nhà quản lý doanh nghiệp cooking sổ sách đánh lừa NĐT. Do đó, việc BTC đang tiến hành xây dựng các thông tư và hướng tới luật kế toán mới cũng nhằm mục đích chuẩn hóa theo quốc tế:
      +  Thông tư 202/2014/TT-BTC hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất
      + Thông tư 200/2014/TT-BTChướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp
      + Luật Kế toán 88/2015/QH13 có nhiều quy định mới về nguyên tắc hạch toán, chuẩn mực kế toán, báo cáo tài chính Nhà nước, kiểm soát nội bộ và kiểm tra kế toán, hành nghề dịch vụ kế toán. Luật kế toán mới bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2017 nhưng những thông tư được BTC ban hành trước đó cũng từng bước giúp các doanh nghiệp chuẩn hóa theo quy định mới và tiến tới áp dụng theo tiêu chuẩn báo cáo IAS và IFRS.


      1. Tại sao chứng khoán Việt Nam lại trong downtrend trung hạn?

        Thị trường chứng khoán có một mối quan hệ rất chặt chẽ với dòng tiền từ ngân hàng, khi dòng tiền bị thắt chặt thì chứng khoán giảm và khi dòng tiền được nới lỏng thì chứng khoán tăng. Vậy với việc NHNN đang thí điểm thực hiện Basel 2 với 10 ngân hàng lớn của Việt Nam và việc BTC chuẩn bị áp dụng luật kế toán mới liệu ảnh hưởng như thế nào đến thị trường chứng khoán?
        -          Basel 2 thí điểm cho 10 ngân hàng kể trên trong áp dụng trong năm 2016 nhưng thực chất những thông tư chuẩn bị đã được ban hành từ trước đó. Trong đó phải kể đến tác dụng tiêu cực của Thông tư 36 làm hạn chế dòng tiền vào thị trường chứng khoán, vậy với việc áp dụng tiêu chuẩn cao hơn thì chắc chắn dòng tiền còn bị thắt chặt hơn nữa trong thời gian tới.
        -          Các ngân hàng không chỉ 10 ngân hàng kể trên đều phải chuẩn bị cho lộ trình áp dụng Basel 2, và như chúng ta đã thấy trong cuộc đại cơ cầu ngành ngân hàng từ 2014-2016 đã có rất nhiều ngân hàng nhỏ buộc phải bị thâu tóm bởi các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, như vậy vẫn là chưa đủ vì rất nhiều ngân hàng vẫn còn dưới khá nhiều so với tiêu chuẩn tính toán của Basel 2 và thời gian tới họ có 2 cách để lựa chọn:
        +  Một là, tìm cách M&A với một ngân hàng khác có cơ cấu tài chính lành mạnh để cải thiện tiêu chuẩn của ngân hàng hợp nhất, và dĩ nhiên điều này vô cùng khó vì không có ngân hàng nhỏ nào đáp ứng được tiêu chuẩn đó lại chịu bị sáp nhập.
        + Hai là, tham gia tìm nguồn vốn mới từ trong và ngoài nước bằng cách phát hành tăng vốn, do đó các ngân hàng phải tìm cách nới room và chào mời nhà đầu tư ngoại. Tại sao lại không phải là NĐT trong nước, chỉ bởi vì những quy định mới từ Basel sẽ hạn chế các ngân hàng và các tập đoàn trong việc giao dịch nội bộ, và dĩ nhiên không còn dùng tiền dễ dàng như trước thì các tập đoàn cũng chẳng mặn mà gì.

        -          Đối với tiêu chuẩn báo cáo tài chính IAS và IFRS thì BTC cũng đã có thông tư và luật mới để chuẩn bị cho lộ trình áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế. Các thông tư 200, 202 ra đời nhằm hạn chế những lỗ hổng trong báo cáo tài chính, và tiếp đến là Luật kế toán 2015 được áp dụng cũng sẽ làm rõ hàng hơn các số liệu và chuẩn hóa các giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính. Sẽ hạn chế được việc cố tình cooking báo cáo tài chính và tăng giảm giá trị của BCTC làm khó khăn hơn cho NĐT trong việc đọc và so sánh BCTC của các công ty.
        -          Dòng tiền từ ngân hàng bị siết, các dự án BĐS vẽ ra sẽ khó được cho vay hơn trước, do đo báo cáo tài chính thì khó mà đánh lừa nhà đầu tư như trước. Các công ty chỉ bằng các thủ thuật tài chính và các dự án vẽ sẽ khó qua mắt các ngân hàng và NĐT để tăng vốn ồ ạt.
        -          Tình trạng nợ công cao, nguồn thu chính từ dầu mỏ thấp lại sẽ đẩy rủi ro vay nợ quốc gia lên cao, kéo theo đó là các NĐT quốc tế sẽ áp một phần bù rủi ro cao hơn và kéo theo lãi suất trái phiếu chính phủ tăng. Các ngân hàng siết cho vay lại và cộng với lãi suất tăng sẽ làm các doanh nghiệp khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn và chi phí vay cao hơn.
        Do đo, chứng khoán Việt Nam sẽ đi vào giai đoạn sideway và downtrend trung hạn, sau khi hệ thống ngân hàng được tái cầu trúc và đáp ứng các tiêu chuẩn Basel 2 và sau khi NHNN có những chính sách mới nhằm thông thoáng hơn dòng tiền bơm vào thị trường thì mới hi vọng thị trường chứng khoán phục hồi.

        Nguồn: Lão Trịnh





        Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

        10 NGÂN HÀNG VIỆT ĐANG “CUỐNG” VÌ BASEL II

        (DĐDN) – Theo kế hoạch, từ tháng 2/2016, 10 ngân hàng do NHNN chỉ định sẽ chính thức bước vào thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II. Đây là tiêu chuẩn không mới đối với các ngân hàng trong khu vực nhưng đầy thách thức với các ngân hàng Việt Nam.

        nganhang
        Để áp dụng được tiêu chuẩn Basel II, các ngân hàng bắt buộc phải tăng vốn
        Phải tăng vốn theo chuẩn
        Theo CTCK Bảo Việt (BVSC), Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp hơn Basel I, do đó, việc áp dụng Basel II tại Việt Nam rất khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian.
        Ví như với Basel I, trụ cột chỉ là yêu cầu vốn tối thiểu, rủi ro tín dụng và cách tiếp cận tiêu chuẩn đối với việc đo lường rủi ro và tính toán vốn. Nhưng với Basel II, về trụ cột có 3 yêu cầu là vốn tối thiểu, giám sát và kỷ luật thị trường & công bố thông tin. Về rủi ro là rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Về cách tiếp cận thông tin gồm nhiều cách tiếp cận đối với việc đo lường từng loại rủi ro và tính toán vốn.
        Cách tính tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của Basel II yêu cầu cao hơn. Ở Việt Nam, cách tính CAR hiện nay là Vốn tự có/Tài sản rủi ro. Nhưng với Basel II, CAR là Vốn tự có/Tài sản rủi ro +12,5 *(COP + CMR).
        Trong đó, tài sản rủi ro là tài sản có rủi ro tín dụng * Hệ số rủi ro. COP là yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động. CMR là yêu cầu vốn đối với rủi ro thị trường.
        Một áp lực trong việc áp dụng Basel II, đó là tăng vốn đối với các ngân hàng. Việc áp dụng Basel II sẽ khiến CAR của các ngân hàng giảm/yêu cầu vốn tăng lên do ngoài rủi ro tín dụng, Basel II tính đến yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Do đó, những ngân hàng có CAR xung quanh 9% sẽ phải tính đến phương án tăng vốn cấp 1 hoặc cấp 2 để cải thiện CAR.
        Nhiều ngân hàng chưa sẵn sàng
        10 ngân hàng Việt được chỉ định thí điểm theo tiêu chuẩn Basel II là BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB.
        Theo số liệu của ngân hàng BIDV, tính đến cuối năm 2015, hệ số CAR của BIDV đạt trên 9%. Đây mới chỉ là mức tối thiểu cần phải đạt được theo quy định tại Thông tư 36 của Ngân hàng Nhà nước nên thuộc diện phải tăng vốn. BIDV cũng là ngân hàng niêm yết duy nhất đã chạm trần mức cho phép của phát hành nợ thứ cấp làm vốn Cấp 2.
        Do vậy, khi áp dụng Basel II, BIDV là ngân hàng đầu tiên phải tăng vốn Cấp 1. Mức vốn cần huy động không phải là nhỏ. Theo giả định, nếu BIDV tìm kiếm được đối tác chiến lược để bán khoảng 20% cổ phần, thì mức vốn điều lệ của BIDV sẽ tăng từ 31.481 tỷ đồng lên 37.777 tỷ đồng. Và mức vốn này mới đủ giúp BIDV giải quyết những khó khăn trong việc áp dụng Basel II. Tuy nhiên đây mới chỉ là giả định.
        Vietinbank cũng đang chịu áp lực lớn phải gia tăng nguồn vốn sớm khi Basel II được áp dụng. Tính đến cuối năm 2015, hệ số CAR của Vietinbank giảm về mức 10% khi tổng tài sản tăng nhanh  lên 17,8%.
        Trong năm 2015, Vietinbank đã hoàn tất phát hành 8.000 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn để bổ sung vốn cấp 2. Nhưng để đáp ứng được tiêu chuẩn của Basel II, Vietinbank  sẽ phải tiếp tục phát hành thêm trái phiếu để giải quyết nhu cầu vốn.
        Tuy nhiên, theo lãnh đạo một số ngân hàng, giải pháp căn cơ và lâu dài có thể giúp các ngân hàng thu hút thêm được nguồn lực tài chính là nới room cho các đối tác nước ngoài. Lãnh đạo Vietinbank cho biết, Chính phủ và NHNN nên nới room cho đối tác ngoại lên mức 30%, 35%, 40% và có thể là mức cao hơn.
        Còn lãnh đạo Vietcombank cho rằng, Chính phủ cần có lộ trình nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng nội từ 30-35% đồng thời có lộ trình giảm tỷ lệ sở hữu vốn của nhà nước tại các NHTM cổ phần Nhà nước để tạo dư địa thu hút vốn.
        Vì sao phải theo đuổi Basel II?
        Câu trả lời đơn giản là theo đuổi Basel II là theo đuổi mục tiêu trở thành một ngân hàng an toàn bởi Basel gồm các bộ tiêu chuẩn khắt khe về vốn, giúp ngân hàng đảm bảo an toàn trong hoạt động. Nếu như Basel I tập trung vào bảo toàn vốn chủ sở hữu, phân định vốn tự có theo nhiều cấp độ thì Basel II đề cập thêm những rủi ro về thị trường, vận hành, đồng thời tỷ lệ an toàn vốn cũng phải khắt khe hơn.
        Ông Loic Fraussier – Phó tổng giám đốc, Giám đốc Khối Quản trị rủi ro của VIB cho biết, thực hiện Basel II, ngân hàng gặp rất nhiều thách thức nhưng lợi ích dài hạn mới khiến họ thực sự quan tâm. “Sau thời gian thực hiện Basel II, khung quản trị rủi ro của VIB đang tiệm cận với các ngân hàng quốc tế, giúp chúng tôi có cơ sở để cạnh tranh với họ khi trở thành ngân hàng lành mạnh và an toàn hơn. Nợ xấu của VIB năm 2014 đã giảm còn 2,51% so với 2,81% một năm trước đó và chúng tôi được Moody’s đánh giá là một trong 2 ngân hàng Việt có sức mạnh tài chính cao nhất”.
        Ông Lê Trung Kiên – Phó vụ trưởng Vụ chính sách an toàn hoạt động ngân hàng – Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước cũng cho rằng việc triển khai Basel II tại Việt Nam còn nhiều thách thức về nhân lực cũng như khả năng tài chính. Tuy nhiên, đây là việc buộc phải làm bởi thực hiện Basel II là một nội dung quan trọng trong Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng.
        Ngoài ra, việc áp dụng tiêu chuẩn Basel II còn là một xu thế tất yếu và bắt buộc khi Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với khu vực và trên thế giới. Việc áp dụng Basel II đối với 10 ngân hàng lớn nhất sẽ khiến các ngân hàng này phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng cho vay và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn. Cùng với đó, ảnh hưởng của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với ngân hàng Việt Nam cũng buộc các ngân hàng phải áp dụng Basel II  nếu muốn tham gia cuộc chơi lớn này vì hầu hết các ngân hàng trong khu vực đã áp dụng Basel II hoặc Basel III trong khi các ngân hàng Việt mới áp dụng Basel I.
        Xác định được mức độ cấp bách và tất yếu này, NHNN cũng đã ra lộ trình đến năm 2018, cả 10 ngân hàng trên sẽ hoàn thành việc thí điểm, sau đó sẽ mở rộng áp dụng Basel II với các NHTM khác trong cả nước.
        Minh Nguyên

        Tổng quan Basel II

        Basel II là phiên bản thứ hai của Hiệp ước Basel, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng. Hiệp ước về vốn Basel II được trình bày như một tập hợp các quy định được đề xuất mà có thể sẽ mang đến một loạt các thách thức về tuân thủ cho các ngân hàng trên thế giới.
        Giới thiệu
        Basel II là phiên bản thứ hai của Hiệp ước Basel, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng. Hiệp ước về vốn Basel II được trình bày như một tập hợp các quy định được đề xuất mà có thể sẽ mang đến một loạt các thách thức về tuân thủ cho các ngân hàng trên thế giới.
        Tuy nhiên điều quan trọng hơn là hàng loạt các tác động kinh doanh và các thách thức về quản lý rủi ro Basel II có thể mang đến cho các ngân hàng, đối thủ cạnh tranh phi ngân hàng, khách hàng, cơ quan đánh giá và cuối cùng là các thị trường vốn toàn cầu của họ.
        Sự phức tạp của Hiệp Ước Mới, cũng như phụ thuộc lẫn nhau của nó với Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế và các quy định của từng nơi trên toàn thế giới, làm cho triển khai Basel II là một dự án có độ phức tạp cao.
        Bài viết này đưa ra tổng quan về các khuôn khổ Basel II. Chúng tôi nhấn mạnh rằng bởi vì các yêu cầu dữ liệu của Basel II là đáng kể, Hiệp Ước Mới không chỉ đơn giản là một bài tập về dữ liệu và hệ thống thông tin. Trên thực tế, dữ liệu Basel II và các vấn đề CNTT là phương tiện để đi đến đích, không phải là một kết thúc. Bằng cách tập trung vào các khía cạnh của Basel II, các ngân hàng có thể bắt đầu được hưởng lợi từ các cơ hội quan trọng nhất của nó.
        Phát triển và triển khai Basel II  
        Năm 1988, BCBS (Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng) đã giới thiệu một khung rủi ro tín dụng (Basel I) xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính. Để đáp ứng các yêu cầu của phát triển liên tục trong ngành ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi và vào tháng Sáu năm 2004, một hiệp ước về vốn mới (Basel II) được ban hành.
        Để có thể triển khai Basel II hiệu quả, tất cả các ngân hàng sẽ cần phải xác định lại chiến lược kinh doanh của họ cũng như các rủi ro tiềm ẩn. Trên thực tế, việc tính toán nhu cầu vốn theo Hiệp Ước Mới đã yêu cầu ngân hàng thực hiện khung rủi ro toàn diện trên toàn bộ tổ chức.
        Basel II cũng khuyến khích trên những cải tiến đang diễn ra trong đánh giá và giảm nhẹ rủi ro. Như vậy, qua thời gian, nó cung cấp cho các ngân hàng cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách phân bổ vốn cho các quy trình, phân đoạn và các thị trường chứng minh một tỷ lệ rủi ro/hiệu quả mạnh mẽ. Phát triển một sự hiểu biết rõ hơn về mối qua lại rủi ro/hiệu quả về vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp cụ thể, khách hàng, sản phẩm và quy trình là một trong những lợi ích kinh doanh tiềm năng quan trọng nhất ngân hàng có thể bắt nguồn từ việc tuân thủ, như hình dung của Ủy banBasel
        Basel II được thiết kế như một khung tiến hóa, vì vậy theo thời gian các cập nhật sẽ được thực hiện để bắt kịp với sự phát triển liên tục trong ngành tài chính. Trước khi thực hiện các quy định mới, Basel II có thể trải qua một sự điều chỉnh định lượng trên cơ sở các kết quả của nghiên cứu tác động gần đây nhất.Các yêu cầu về quản lý rủi ro của Basel II có thể mang tới những thay đổi đáng kể trong kinh doanh căn bản của một ngân hàng riêng lẻ cũng như trong cơ cấu tổ chức của nó. Với Basel II, đầu ra của việc quản lý tốt hơn rủi ro tín dụng và rủi ro vận hành sẽ là đầu vào của mô hình vốn kinh tế mà sử dụng nó các ngân hàng có thể phân bổ vốn cho các chức năng và giao dịch khác nhau và phụ thuộc vào rủi ro.
        Nhìn chung về Basel II
        Với Basel II, ủy ban Basel đã từ bỏ phương pháp luận “một kích thước phù hợp với tất cả” (“one size fits all”) của hiệp ước về vốn năm 1988 về việc tính toán yêu cầu vốn pháp định nhỏ nhất và giới thiệu khái niệm “3 cột trụ” (three pillar concept) mà tìm kiếm để liên minh các yêu cầu pháp định với các nguyên tắc kinh tế của quản lý rủi ro.
        Basel I giới hạn bằng việc đo lường rủi ro thị trường và đo lường cơ bản cho rủi ro tín dụng. Basel II giới thiệu một chuỗi các cách tiếp cận rủi ro tín dụng phức tạp và tập trung mới vào rủi ro vận hành. Basel II sử dụng khái niệm “three pillars”– (1) Yêu cầu vốn tối thiểu, (2) rà soát giám sát, (3) nguyên tắc thị trường.
        Pillar I
        Pillar I nhắc đến việc duy trì một lượng vốn pháp định được tính toán cho ba thành phần rủi ro mà ngân hàng đối mặt: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro vận hành. Với thành phần rủi ro tín dụng có thể được tính toán theo ba cách khác nhau của thay đổi độ phức tạp, cụ thể là tiếp cận tiêu chuẩn hóa, IRB nền tảng và IRB cao cấp. IRB là viết tắt của “Internal Rating - Based Approach” - “Phương pháp tiếp cận dựa trên đánh giá nội bộ”.
        Với rủi ro vận hành, có ba cách tiếp cận khác nhau - phương pháp tiếp cận chỉ số cơ bản, phương pháp tiêu chuẩn hóa, và phương pháp đo lường nội bộ. Đối với rủi ro thị trường phương pháp tiếp cận ưa thích là VaR.
        Với Pilar I, tỷ lệ vốn tối thiểu bằng 8% là không thay đổi. Tỷ lệ này thể hiện mối quan hệ giữa các quy định về quỹ (vốn) của riêng ngân hàng và tài sản được điều chỉnh theo trọng số rủi ro, một cách tính toán khả năng gánh chịu rủi ro. Tài sản được điều chỉnh theo trọng số rủi ro là giá trị tài sản nhân lên với một tham số (trọng số rủi ro) mà là đại diện cho cho rủi ro (tín dụng) liên quan tới các tài sản này. Với rủi ro vận hành và rủi ro thị trường, hai loại rủi ro khác được tính toán trong khung Basel I, tài sản được điều chỉnh theo trọng số (mà được dùng trong tính tỉ lệ vốn tối thiểu) có nguồn gốc trực tiếp từ các yêu cầu về vốn được tính bằng cách nhân chúng với 12,5 (nghịch đảo của tỷ lệ tối thiểu 8%).
        Pillar I, cũng cấp một cập nhật cơ bản của phương pháp Basel I cho tính toán tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro, mẫu số của tỷ lệ vốn. Đầu tiên, rủi ro vận hành được giới thiệu như một loại rủi ro mới cho các ngân hàng phải giữ vốn quy định. Rủi ro này bao gồm các thiệt hại do quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc bị thất bại, do con người hay hệ thống, hoặc từ các sự kiện bên ngoài.
        Thứ hai, một loạt các tùy chọn nhạy cảm với rủi ro và ngày càng tinh vi có thể dùng để quyết định yêu cầu về vốn của ngân hàng, cả cho rủi ro tín dụng và rủi ro vận hành. Theo cách này, tùy chọn có thể được lựa chọn để phù hợp nhất với các đặc trưng riêng biệt của từng ngân hàng. Hơn nữa, ưu đãi được áp dụng chocác ngân hàng áp dụng cách tiếp cận phức tạp hơn và do đó cải thiện khả năng quản lý rủi ro của họ theo thời gian. Trong lĩnh vực rủi ro tín dụng, có hai phương phương pháp được tiếp cận, đó là tiếp cận tiêu chuẩn và tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB). Cách tiếp cận trước ràng buộc trọng số rủi ro với xếp hạng cung cấp bởi các cơ quan xếp hạng được công nhận. Cách tiếp cận sau sử dụng các ước tính của chính ngân hàng về các yếu tố rủi ro nhất định, dựa trên các yếu tố rủi ro được phép tính toán, khoảng cách được tạo ra giữa cách tiếp cận cơ bản và cách tiếp cận nâng cao. Các quy định mới về rủi ro tín dụng cũng bao gồm cả đối phó chi tiết với chứng khoán và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Cuối cùng, trong lĩnh vực rủi ro vận hành, ngân hàng có thể tính toán yêu cầu vốn trên cơ sở tổng thu nhập của mình (cách tiếp cận chỉ tiêu cơ bản và phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn). Với rủi ro thị trường, khung Basel mới về cơ bản không thay đổi cách tiếp cận hiện tại.
        A. Cách tiếp cận được chuẩn hóa cho rủi ro tín dụng.
        Trong cách tiếp cận đã chuẩn hóa, tài sản được phân loại thành một tập hợp các lớp tài sản được chuẩn hóa và một trọng số rủi ro áp dụng cho mỗi lớp, phản ánh mức độ tương quan của rủi ro tín dụng. Sự thay đổi so với Basel I liên quan đến sử dụng xếp hạng tín dụng bên ngoài làm cơ sở quyết định trọng số rủi ro. So với Basel I, nơi mà tất cả các tài sản đều được đánh trọng số 100%, thì giờ đây đã có sự cân nhắc khác nhau cho các trọng số rủi ro. Trọng số cho các doanh nghiệp đầu tư đã giảm đáng kể (ví dụ, tới 20% cho AAA), trong khi ở phân khúc doanh nghiệp không đầu tư, một trọng số rủi ro là 50% áp dụng cho doanh nghiệp được xếp hạng dưới “BB”. Hơn nữa, các doanh nghiệp không được xếp hạng giờ đây đã đạt được một trọng số rủi ro tương tự như lúc trước thu được theo Basel I.
        B. Tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ cho rủi ro tín dụng.
        Tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ cho rủi ro tín dụng (IRB) là một trong những yêu tố đổi mới nhất của khung Basel II mới bởi vì nó cho phép chính các ngân hàng quyết định các yếu tố căn bản khi tính toán các yêu cầu về vốn của họ. Với cách tiếp cận IRB, vốn yêu cầu tối thiểu dựa trên “phân bố xác suất thua lỗ” dựa vào rủi ro mặc định trong danh mục các khoản vay hay các công cụ tài chính khác. Nhận thức về đánh giá rủi ro được thiết lập trong một năm. Mô hình IRB tiếp tục giả định một mức độ 99.9% độ tin cậy, (nghĩa là một lần trong một nghìn năm), các tổn thất thực tế dự kiến sẽ vượt quá ước tính của mô hình.
        Pillar II
        Pillar II định nghĩa quá trình rà soát giám sát của khung quản lý rủi ro của tổ chức và cuối cùng là an toàn vốn. Nó đặt ra trách nhiệm giám sát cụ thể đối với hội đồng quản trị và quản lý cấp cao, do đó tăng cường nguyên tắc của kiểm soát nội bộ và quản trị doanh nghiệp khác do cơ quan quản lý ở các nước khác nhau trên toàn thế giới thực hiện.
        Theo Ủy ban Basel, Hiệp Ước Mới nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý ngân hàng là phát triển một quy trình đánh giá vốn nội bộ và thiết lập mục tiêu cho vốn có tương xứng với hồ sơ rủi ro đặc biệt và môi trường kiểm soát của ngân hàng. Giám sát viên sẽ chịu trách nhiệm đánh giá xem các ngân hàng định giá nhu câu an toàn vốn của họ liên quan đến rủi ro của ngân hàng tốt đến mức nào. Sau đo các quy trình nội bộ sẽ là đối tượng được rà soát giám sát và can thiệp khi thích hợp. Kết quả là giám sát viên có thể yêu cầu, ví dụ, hạn chế về chi trả cổ tức hoặc nâng cao ngay lập tức vốn bổ sung.
        Với quy trình rà soát giám sát, các câu hỏi cũng sẽ được đề cập là liệu các ngân hàng có nên giữ vốn bổ sung đối với những rủi ro mà không hoặc không hoàn toàn, được nhắc đến trong Pillar I, và điều này có thể liên quan đến hành động giám sát khi điều này thực sự xảy ra. Vai trò tích cực cho cơ quan giám sát sẽ cung cấp cho các ngân hàng ưu đãi để tiếp tục cải thiện mô hình và hệ thống quản lý rủi ro và của các ngân hàng. Đối với tình hình hiện nay, Pillar II đòi hỏi giám sát viên áp dụng cẩn thận hơn các quyết định trong việc đánh giá về an toàn vốn của các ngân hàng riêng lẻ.
        Pillar III
        Pillar III nhằm mục đích tăng cường kỷ luật thị trường thông qua tăng cường công khai thông tin của các ngân hàng. Nó đặt ra yêu cầu và khuyến nghị công kha thông tin trong một số lĩnh vực, bao gồm cả cách ngân hàng tính toán an toàn vốn và phương pháp đánh giá rủi ro của ngân hàng. Tăng cường so sánh và minh bạch giữa các ngân hàng là kết quả mong muốn của Pillar III. Đồng thời, Ủy ban Basel đã tìm cách để đảm bảo rằng Basel II tương ứng với các chuẩn mực kế toán, và trên thực tế, không xung đột với các tiêu chuẩn về công khai thông tin kế toán rộng hơn mà các ngân hàng phải tuân thủ.
        Với Pillar III, các ngân hàng sẽ được yêu cầu công khai thông tin tập trung vào các thông số quan trọng của hồ sơ kinh doanh của họ, nguy cơ rủi ro và quản lý rủi ro. Những công khai như vậy được xem như là một điều kiện tiên quyết cho tính hiệu quả hoạt động của nguyên tắc thị trường ngân hàng. Cả hai thông tin định tính và định lượng phải được công khai. Do đó cần thiết công khai về cơ cấu và an toàn vốn, và thông tin công khai phải bao gồm chi tiết về vốn căn bản. Về công khai rủi ro tín dụng, thông tin về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tín dụng và tài khoản chứng khoán phải được cung cấp. Các ngân hàng sẽ được yêu cầu phác thảo một số chi tiết về việc sử dụng phương pháp tiếp cận IRB, mà đại diện cho một thành phần chính của Hiệp Ước Mới. Yêu cầu công khai còn bao gồm thêm việc tuân thủ các yêu cầu về rủi ro vận hành. Cuối cùng, Hiệp Ước Mới yêu cầu thông tin về cổ phần vốn chủ sở hữu và rủi ro lãi suất trong cuốn sách ngân hàng được xuất bản. (Hình 1)
        Tóm tắt về Three Pillars
        Pillar I : Yêu cầu về vốn tối thiểu
        Pillar II: Rà soát giám sát
        Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá an toàn vốn tổng thể của họ và chiến lược để duy trì mức vốn.
        Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại “quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng”.
        Các giám sát viên mong đợi ngân hàng hoạt động trên tỉ lệ vốn tối thiểu, và nên khuyến nghị các ngân hàng duy trì vốn ở mức cao hơn mưc tối thiểu.
        Giám sát viên cần tìm cách can thiệp ở giai đoạn đầu để ngăn chặn vốn rơi xuống dưới mức tối thiểu.
        Pillar III: Nguyên tắc thị trường
        Nguyên tắc thị trường củng cố các nỗ lực để thúc đẩy an toàn và minh bạch trong các ngân hàng.
        Công khai các thông tin cơ bản và các thông tin liên quan đã làm cho nguyên tắc thị trường hiệu quả hơn.
        So sánh giữa Basel I và Basel II
        Với Basel I, mức độ cphân biệt rủi ro rất đơn giản. Ngoại trừ chính phủ, tổ chức công cộng, ngân hàng, tài sản thế chấp nhà ở, các hệ số rủi ro là 100%. Cho vay Samsung Electronics và SOHO nhận được trọng số số rủi ro như nhau. Điều này là khônghợp lývới lẽ thường. Các đặc điểm chính của BaselII đang củng cốsự phân biệt rủi ro và tăng lợi ích cho ngân hàng mà có thể quản lý rủi ro sử dụng dữ liệu nội bộ đạt chất lượng. Đối với ngân hàng không có dữ liệu nội bộ đạt chất lượng, sẽ sử dụng giá trị ước lượng tiêu chuẩn được đưa ra bởi cơ quan giám sát. Điều này có ý nghĩa là đưa ngân hàng đến một sự biến đối sang một cấu trúc mà các hệ thống của ngân hàng như dữ liệu nội bộ, quy trình, quản lý và chiến lược có khả năng chống lại rủi ro thực tế. Môi trường pháp lý thay đổi ảnh hưởng đến kinh doanh và việc ra quyết định thông qua nhiều loại tương tác.
        Kết luận
        Yêu cầu quản lý rủi ro của Hiệp Ước Mới dường như mang đến một thay đổi đáng kể trong kinh doanh căn bản của ngân hàng riêng lẻ cũng như trong cơ cấu tổ chức của nó. Theo Basel II, các kết quả quản lý tốt hơn rủi ro tín dụng và rủi ro vận hành sẽ là đầu vào của một mô hình vốn kinh tế mà dùng nó các ngân hàng có thể cấp vốn cho các chức năng và giao dịch khác nhau tùy thuộc vào rủi ro.
        Để tránh khả năng yêu cầu dự trữ vốn cao hơn có thể gây nguy hiểm cho vị thế thị trường, các ngân hàng cần phải đảm bảo rằng họ có một cách tiếp cận triển khai toàn diện tại chỗ. Họ cũng cần phải cân nhắc làm thế nào những thách thức và cơ hội của Basel II có thể ảnh hưởng đến kinh doanh của họ và các mối quan hệ khách hàng của họ theo thời gian.
        (Cnth theo Tạp chí thnh)

        CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG – BASEL II VÀ ÁP LỰC TĂNG VỐN




        Cổ phiếu các ngân hàng tại Việt Nam đang chịu áp lực rất lớn trong việc thực hiện áp dụng Basel II. Trong năm 2016, sẽ có 10 ngân hàng được thí điểm áp dụng Basel II đó là BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB trong đó có những ngân hàng đang niêm yết trên thị trường chứng khoán như BIDV, Vietinbank, Vietcombank, ACB và Sacombank.

        Một tiêu chí quan trọng trong việc áp dựng Basel II đó là chỉ số an toàn vốn CAR phải đạt tối thiểu theo chuẩn của Basel II. Mặc dù mức CAR đưa ra của Basel II chỉ là 8% tuy nhiên có quy định rõ ràng về cách tính cũng như tỷ lệ của vốn chủ sở hữu và vốn cấp 1 cũng như cấp 2 của ngân hàng.
        So với cách tính CAR của Basel II, các tính CAR của Việt Nam đang áp dụng có sự khác biệt: Cách tính tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của Basel II yêu cầu cao hơn. Ở Việt Nam, cách tính CAR hiện nay là Vốn tự có/Tài sản rủi ro. Nhưng với Basel II, CAR là Vốn tự có/(Tài sản rủi ro +12,5 *(COP + CMR)). Trong đó, tài sản rủi ro là tài sản có rủi ro * Hệ số rủi ro. COP là yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động. CMR là yêu cầu vốn đối với rủi ro thị trường. Điều này cho thấy mẫu số của công thức tính CAR theo Basel II lớn hơn nhiều theo cách tính của Việt Nam hiện nay và điều đó sẽ khiến cho các chỉ số CAR của các ngân hàng tại Việt Nam giảm sút đáng kể.
        Chỉ số CAR theo cách tính của Việt Nam được công bố bởi NHNN tại thời điểm tháng 11/2015 cho thấy các ngân hàng thương mại nhà nước đang có chỉ số thấp nhất với mức bình quân là 9,12 và của các ngân hàng cổ phần là 12,75. Và đặc biệt với BID và CTG thì chỉ số này chỉ lần lượt là 9% và 10,3% và theo ước tính thì nếu áp dụng CAR của Basel II thì các chỉ số này sẽ giảm đi 1% và dường như nằm vừa đủ với tiêu chí của Basel II.
        Hệ số CAR tại 11/2015
        Việc chỉnh sửa thông tư 36 cũng sẽ tác động mạnh đến chỉ số CAR của các ngân hàng và việc các ngân hàng chủ động tăng vốn chủ sở hữu hay vốn cấp 1 là điều chắc chắn sẽ phải thực hiện trong những tháng tới, nếu họ không muốn bị ra khỏi cuộc chơi Basel II.
        Một điều khiến chỉ số của các ngân hàng ở Việt Nam bị ảnh hưởng đó là việc tăng tổng tài sản quá nhanh so với tăng vốn. Như trong bài viết về Top 100 ngân hàng tại Đông Nam Á, các ngân hàng tại Việt Nam đang tăng quá mạnh về tổng tài sản nhưng quá thấp về vốn chủ sở hữu.
        Điều này sẽ khiến cho các cổ đông của ngân hàng tại Việt Nam tiếp tục nhận cổ tức bằng cổ phiếu cũng như sẽ bị pha loãng cổ phiếu khi ngân hàng tiến hành bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược, các đối tác nước ngoài. Và đối với một số ngân hàng có mức lợi nhuận khiêm tốn trong năm 2015, việc không có nguồn lợi nhuận giữ lại sẽ là điều khó khăn khi họ muốn tăng vốn cấp 1. Việc tìm kiếm các đối tác bên ngoài để phát hành thêm và pha loãng lợi nhuận cho các cổ đông hiện tại sẽ trở nên khó khăn. Và người bị thiệt đó là những cổ đông nhỏ lẻ nắm giữ các cổ phiếu này.
        Do vậy với các ngân hàng tham gia thí điểm Basel II, 2016 sẽ là năm cực kỳ khó khăn và cổ đông của họ sẽ phải gánh chịu rất nhiều rủi ro và yếu tố khó có thể tự quyết. Tuy nhiên, với những ngân hàng có lợi nhuận tốt trong năm 2015, việc này sẽ trở nên dễ thở hơn so với các ngân hàng còn lại.
        Lê Quang Hải – Kiểm toán PRO.

        Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

        The Next Perfect Banking Storm - Cơn bão ngành ngân hàng tiếp theo sẽ diễn ra vào thời gian nào?

        Those looking for when the next financial crisis might be should set a reminder for Jan. 1, 2018.
        That's when a host of new rules are scheduled to come into force that are likely to further constrain lending ability and prompt banks to only advance money to the best borrowers, which could accelerate bankruptcies worldwide. As with any financial regulation, however, the effects will start to be felt sooner than the implementation date.

        Two key rules are slated for 2018: The leverage ratio set by the Basel Committee on Banking Supervision and International Financial Reporting Standard No. 9, defined by the International Accounting Standards Board. Other rules that require banks to stop using their own internal measures to assess risk start to be introduced from next year.

        Basel III has already been blamed for reduced liquidity in global markets and slower credit growth. What's about to be rolled out will be a steroid shot to that.

        Past its Heyday
        As regulation has increased, the number of credit-related jobs at financial institutions has plunged



        IFRS 9, for instance, will require earlier recognition of expected credit losses, a move that according to some credit analysts could increase nonperforming assets at some banks by as much as a third. As bad loans -- or their recognition, for that matter -- increase, so do capital requirements. In other words, it'll be more expensive and difficult for banks to lend.

        New Basel rules aimed at reducing the leeway banks currently enjoy on how they account for risk will come into effect over the next two years. The regulations imposed after the global financial crisis already require banks to set aside more capital for every dollar they lend, depending on a borrower's credit standing. The trouble is, global regulators left the decision on creditworthiness mostly to the banks themselves. A 2013 Basel study found variations of as much as 20 percent in the risk weighting attached to similar assets.

        Starting from 2017 therefore, financial institutions will no longer be able to use their internal models to assess risk for derivative counterparties. In 2018, that will be expanded to securitization and thereafter -- though the exact date is yet to be determined -- lenders will have to evaluate all of their loan clients based on standards set by the Basel committee.

        According to the proposed rules, companies that have higher revenues and lower leverage will require less capital from banks, meaning banks will have an incentive to lend only to the biggest corporates with more established businesses. Good luck to smaller enterprises needing funds to increase sales.

        Before that rule comes into force, however, the leverage ratio takes effect on Jan. 1, 2018. From then, banks will be required to limit how much their balance sheet is leveraged overall, effectively putting a hard cap on loan growth.

        It's increasingly difficult for banks to help spur global expansion, no matter how low -- or negative -- benchmark rates are. But it's about to get a lot tougher. Banks will tighten their belts and as they deleverage, so will the world. That means more bankruptcies, lay-offs and fewer jobs, which sounds very much like a recipe for a global crisis.

        As former Bank of England Governor Mervyn King noted recently, the massively detailed banking legislation that was enacted after the last financial crisis has certainly created a lot of jobs for lawyers and compliance officers. Perhaps those two areas will be the only bright spots post 2018.



        Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

        Behavioral Bias - Cognitive Vs. Emotional Bias In Investing

        Everybody has biases. We make judgments about people, opportunities, Washington policies and, of course, the markets. When we analyze our world without knowing about these biases, we put our observations through a number of filters manufactured by our experiences, and I’m not just talking about stock screeners.

        I’m talking about the filters we put our decisions through that sometimes make them biased.
        It’s impossible to be unbiased in our decision-making. However, we can mitigate those biases by identifying and creating trading and investing rules - but only if we know what to look for. Fortunately, investing biases fall into two categories: cognitive and emotional.
        Cognitive Bias
        Think of a cognitive bias as a rule of thumb that may or may not be factual. We’ve all seen movies where a thief wears a police uniform to pass through a security checkpoint. The real police officers assume that because the person is wearing a uniform like theirs, he must be a real police officer. That’s an example of a cognitive bias.

        What does a fake cop have to do with your investment choices? You make the same types of assumptions that aren’t necessarily true. Here are some examples:
        • Confirmation Bias: Have you noticed that you put more weight into the opinions of those who agree with you? Investors do this too. How often have you analyzed a stock and later researched reports that supported your thesis instead of seeking out information that may poke holes in your opinion?
        • Gamblers’ Fallacy: Let’s assume that the S&P has closed to the upside five trading sessions in a row. You place a short trade on the SPDR S&P 500 (ARCA:SPY) because you believe chances are high that the market will drop on the sixth day. While it may happen, on a purely statistical basis, the past events don’t connect to future events. There may be other reasons why the sixth day will produce a down market; but by itself, the fact that the market is up five consecutive days is irrelevant.
        • Status-Quo Bias: Humans are creatures of habit. Resistance to change spills over to investment portfolios through the act of repeatedly coming back to the same stocks and ETFs instead of researching new ideas. Although investing in companies you understand is a sound investment strategy, having a short list of go-to products might limit your profit potential.
        • Negativity Bias: The bull market is alive and well, yet many investors have missed the rally because of the fear that it will reverse course. Negativity bias causes investors to put more weight on bad news than on good. Some might call this risk management, but this bias can cause the effects of risk to hold more weight than the possibility of reward.
        • Bandwagon Effect: Warren Buffett became one of the most successful investors in the world by resisting the bandwagon effect. His famous advice to be greedy when others are fearful and fearful when others are greedy is a denouncement of this bias. Going back to confirmation bias, investors feel better when they are investing along with the crowd. But as Buffett has proven, an opposite mentality, after exhaustive research, may prove more profitable.
        Emotional Bias
        You may notice some overlap between cognitive and emotional bias, but think about this: One reason cited by market watchers for disbelief that the current bull market is sustainable is a focus on the past. “I purchased a home in 2007 and got burned. Why would now be any different?” That’s an example of an emotional bias. Simply put, it is taking action based on feelings instead of fact. Here are a few examples:

        • Loss-Aversion Bias: Do you have a stock in your portfolio that is down so much that you can’t stomach the thought of selling? In reality, if you sold the stock, the money that is left could be reinvested into a higher quality stock. But because you don’t want to admit that the loss has gone from a computer screen to real money, you hold on in hopes that you will, one day, make it back to even.
        • Overconfidence Bias: “I have an edge that you (and others) do not.” A person with overconfidence bias believes that his/her skill as an investor is better than others' skills. Take, for example, the person who works in the pharmaceutical industry. He/she may believe in having the ability to trade within that sector at a higher level than other traders. The market has made fools out of the most respected traders. It can do the same to you.
        • Endowment Bias: Similar to loss aversion bias, this is the idea that what we do own is more valuable than what we do not. Remember that losing stock? Others in its sector may show more signs of health, but the investor won’t sell because he/she still believes, as before, it’s the best in its sector.
        Take Action
        There is no way to eliminate bias. It’s who we are, and those biases aren’t always liabilities. In investing, taking steps to minimize those biases is how the pros make money. Some examples may include:

        Use a spreadsheet to calculate the risk/reward of every trade or investment. Set your threshold and never deviate from the rule. If a stock falls more than 7 percent (or the percentage you choose), you will immediately sell.
        When you put a trade on, set an upside target. Once it reaches the target, sell the position.
        Bottom Line
        The only way to minimize bias is to set objective trading rules and never deviate. Overriding your emotions is a difficult task and takes time to develop. Professional traders, however, have learned that it’s the only way to make money in the markets.

        7 Behavioral Biases That May Hurt Your Investments

        Do you feel the pain of loss more than the joy of gains? How to separate emotions from investing.

        It’s not unusual for investors to sense a tug-of-war between their analytical brains and their emotions.
        Until fairly recently, investing was considered purely logical. Find the right quantitative strategy or forecasting model, and you’d be off and running.
        But any investor who’s gotten the jitters and pushed the “sell” button at the first sign of a market downturn has acted on emotions.
        Often, the emotional response is due, at least in part, to a behavioral bias. For example, perhaps the antsy investor sat out a previous market correction, and now regrets the inaction. Or perhaps he or she just wants to feel in control, and even a panic-driven decision to sell seems better than just sitting back and doing nothing.
        These days, asset managers take seriously the behavioral components of investing, and with good reason. Even after working with a financial advisor on an investment policy statement based on risk tolerance and objectives, investors often react in the moment or have trouble shedding long-held beliefs that may hurt their returns.
        Cognitive and behavioral researchers have identified a number of common biases that affect investing.
        Trent Porter, founder of Denver-based Priority Financial Planning, says investors should become aware of their own biases. “While not inherently bad, and most are natural to human behavior, these biases could negatively impact one’s ability to increase their financial position,” he says.
        Here are seven biases that may affect investing performance.
        Loss aversion. People often feel the pain of loss more than the joy of gains. Researchers Ori and Rom Brafman, in their 2008 book, “Sway: The Irresistible Pull of Irrational Behavior,” write that athletic teams often play to avoid losing, rather than to win. Sharp-eyed opponents can exploit this timidity with more aggressive play.
        Loss aversion takes hold when people recall investment portfolio declines more vividly than gains, sometimes even when the gains are greater. “It upsets people if they lose money when the market goes down. People remember losses forever, but they don’t remember the years they made 30 percent – just years they lost 20 percent,” says Miye Wire, founder of advisory firm MiyeWire LLC, in Reston, Virginia.
        Wire recommends that investors have discussions with their advisors about market expectations and managing emotions during downturns. “Memories are short,” she says.
        Confirmation bias. People are often drawn to information or ideas that validate existing beliefs and opinions. For example, many TV viewers prefer a news channel that represents their own political views, avoiding those featuring commentators of different opinions.
        People do the same when it comes to financial topics. An investor may have a belief about market conditions and gravitate toward information sources that confirm that belief.
        “Oftentimes, it happens when we attach an emphasis to the outcomes we desire, such as investing too much in the stock of the company you work for, which also reduces your diversification. The best way to overcome this bias is to consider information from multiple sources,” Porter says.
        Mental accounting. First identified by behavioral economist Richard Thaler of the University of Chicago, mental accounting occurs when a person views various sources of money as being different from others.
        Mental accounting can manifest itself in a few ways. Money earned at a job may be viewed differently than money from an inheritance. This can affect the way the money is spent or invested.
        In a 1999 paper on the topic of mental accounting, Thaler cited an example of a trip he took to Switzerland to give a talk. Afterward, he and his wife took a vacation in the area. “At that time the Swiss franc was at an all-time high relative to the U.S. dollar, so the usual high prices in Switzerland were astronomical. My wife and I comforted ourselves that I had received a fee for the talk that would easily cover the outrageous prices for hotels and meals. Had I received the same fee a week earlier for a talk in New York though, the vacation would have been much less enjoyable,” he wrote.
        Mental accounting shows up in investor portfolios, too. “People get emotionally tied to certain stocks,” Wire says. She recalls a particular elderly woman who wouldn’t part with a large holding of stock in a local bank started by a family member. Wire says it’s a fairly common problem.
        “Especially if it’s something they inherited or was a gift, or it’s a company they used to work for, people can become emotionally involved with owning certain stocks. When people have employee stock purchase plans to buy company stock, they feel like they’re more loyal employees if they own it, even if it’s a bad investment and they’re not diversified,” Wire says.
        Illusion of control bias. After a prominent plane or train crash, it’s not hard to find online commenters proclaiming a preference for travel by car, saying they feel more in control when driving. Many are resolute in this preference despite decades of research showing that air and rail are statistically much safer.
        A similar thought process applies to some people’s investing decisions. “The illusion of control begins with the word ‘should,’ as in, 'I should be able to pick the right stocks,' or 'someone should have the ability to time the market to achieve superior results consistently,'” says Michael Kay, president and advisor at Financial Life Focus in Livingston, New Jersey.
        People can easily justify those ideas, he says, but that thought process can be financially damaging. “People who live under this belief have trouble coming to terms with the irrationality and variability of markets and the impossibility of their expectation. The outcome is typically a spiral of financial disaster and the rationalization that while their belief is correct, the person who pushes the buttons wasn't competent,” Kay says.
        Recency bias. When gas prices fall, sales of large sport-utility vehicles and trucks tend to rise. It’s not difficult to see the connection: Consumers believe what’s happened recently will continue to happen.
        The phenomenon also exists with investing. It’s no secret that retail investors tend to chase investment performance, often piling into an asset class just as it is peaking and about to reverse lower. Because the investment has been climbing higher recently, investors believe that will remain the case.
        Unfortunately, research has shown that it’s essentially impossible to predict which asset class, sector or geographic region will be the top performer in any given year. But past performance can be a strong driver, as few people want to feel left behind.
        Wire says interest in gold, which took a sharp turn lower in late 2012, was an example of investors’ recency bias before the yellow metal plummeted. “For three years, everybody wanted to buy gold. I just kept saying, ‘Really?’” she recalls.
        Hindsight bias. “I knew that would happen.” Who hasn’t said or heard that, probably many times?
        While the know-it-all who reminds people of his or her forecasting prowess can be annoying, hindsight bias can have detrimental effects on one’s finances.
        “Humans tend to overestimate the accuracy of their predictions. This can be costly as we get a false sense security when making investment decisions, which can lead to excessive risk-taking behavior and place people’s portfolios at risk,” Porter says.
        Herd mentality. Rugged individualists aside, people are social animals. Marketers know this, and have become adept at creating social proof that since other buyers like their products, so should you. It’s another type of thought process that takes hold when a person doesn’t want to be left out of a trend or a movement.
        That’s very true when it comes to investing. Just because the larger herd is stampeding into or out of a stock, sector or region, it doesn’t mean that’s the right move for an investor with his or her own objectives.
        “Investors that buy when the market is high and sell when the market is down are more than likely influenced by the herd mentality,” Porter says. “This bias occurs when individuals are influenced by their peers to follow trends, purchase items and adopt certain behaviors, even if it is not in their best interest. It is important to stop and ask yourself why you are making this financial decision, and looking to see if it aligns with your financial plan. Doing so will go a long way in helping ensure that the actions you are taking are actually right for you, not for someone else.”

        Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

        How Your Behavior Affects Your Investment Results

        “Until you can manage your emotions, don’t expect to manage money.” – Warren Buffett

        profit and loss illustration
        One of the main assumptions in basic economic theory is that we all make rational decisions. Unfortunately economic theory doesn’t always translate so well into the real world. Have you ever made an irrational decision and let your emotions get the best of you? Of course you have. We all have done this at some point in our lifetime.
        The reason you see so many wild swings up and down in the stock market has absolutely nothing to do with company earnings or economic growth. It has everything to do with human nature and our cognitive biases which force us into making the wrong decisions at the worst times.

        What happens when we let our emotions control our investment decisions

        According to Vanguard founder John Bogle, the average equity mutual fund gained 173% from 1997 to 2011. That’s not a bad rate of return at just below 7.5% per year. But the average equity mutual fund investor did not actually get to enjoy those returns. They only earned 110% (or about 5.4% per year) over that time frame, thanks to the tendency to buy high and sell low. The reason for this difference is that we let our emotions control our investment decisions and actions.
        Fear and greed are your biggest enemies when implementing an investment strategy. Unfortunately our cognitive biases work to amplify these two emotions right when we need to contain them the most. Studies have shown that we are twice as depressed from losing money as we are pleased from gaining money. This can lead to fear taking over our decisions.

        Buy low, sell high

        We have all heard the phrase buy low, sell high to make money investing over time. This is easier said than done in most cases. When we see stocks go down in price we get nervous that the declines are going to continue indefinitely. This is our tendency to have a recency bias causing investors to extrapolate the recent past into their future predictions. So many investors were focused on the market crash of 2007-2008 that they couldn’t possibly imagine that stocks would rally over the ensuing 4 years. We tell ourselves we will just sit it out until things get better. Because of these biases we sell when stocks are down. So we sell low instead of following our common sense advice of buying low.
        On the other end of the spectrum is the problem of overconfidence. Overconfidence leads many of us to think we know how the future will play out and that we make all of the right moves. This can lead to greed. This situation played itself out in the late-1990’s technology bubble. Investors simply assumed that the market would continue to rise forever and failed to take into account the historical viewpoint that markets can overheat and become overvalued. And once gains start to accumulate we get the feeling that we are playing with house money so we continue to increase risk and buy more. We feel that we will miss out on the action if we don’t get in right now.
        The confirmation bias causes us to only seek out only the information that supports our current viewpoint. When things are going well we don’t want to be bothered with the fact that there are alternate points of view. We just want to continue making money because we are such great investors when stocks are rising. Greed, overconfidence and the confirmation bias all cause us to buy high instead of buying low as we should.

        Herd mentality

        We also tend to follow the herd when making decisions. It’s much easier to fail when everyone else around you is in the same position. But to be successful investors and implement the buy low, sell high philosophy you actually have to go against the grain and be a contrarian. As famed investor and billionaire Howard Marksrecently stated, “When others love investments, we should be cautious. But when others hate them, we should turn aggressive.”
        Now, let me be clear, this is not an easy thing to do. No one wants to lock in gains and sell when markets are rising and good times are all around us. And it’s very difficult to force yourself to buy when markets are declining because the collective mood is so negative.

        Realize that you cannot control the future

        One of the biggest reasons that we let fear and greed control our decisions is that there are an abundance of unknowns that we just cannot predict. You have to be willing to admit to yourself that you don’t know what’s going to happen in the future. There will always be the element of the unknown. You have no control over the economy, the stock market, politics or what everyone else does with their money. Coming to grips with this reality will save you a lot of stress and sleepless nights worrying about your finances.
        So, if you are willing to admit you don’t know what is going to happen in the future and that humans make irrational decisions from time to time how do you control behavior to save and invest for retirement?

        Come up with an investment strategy

        The first thing you need to do is come up with a comprehensive goals-based plan. For this to work you need to know why you are saving and investing. Circumstances will change and so too will your goals but you must set objectives to be able to benchmark yourself along the way to make sure you are on the right track. Studies have shown that measurement actually improves performance over time so figure out simple ways to track your progress.
        The amount of choices can be overwhelming when you first start to invest. So focus on those areas that will have the biggest impact on the long-term. The first decision you need to make deals with your asset allocation (how you split your funds between stocks, bonds, cash and other investments). Studies have shown that this can explain up to 90% of the variation in your investment performance so this decision is much more important than the individual stocks, mutual fund or ETFs you invest in.
        Determine your asset allocation
        Set your asset allocation based on your risk profile and time horizon. You need to take into account your age, net worth, salary and amount of time until you actually need the money. These factors determine your ability to take risk. But you also must determine your willingness to take risk. Make sure you are comfortable with the amount of money you put in risky assets otherwise your behavioral biases will force you to make short-term decisions that will hurt you in the long-term. Younger investors should be able to have a higher percentage of their asset in stocks than those closer to retirement since they have a longer time frame to make up losses.
        Automate your investment strategy
        Once your asset allocation is set you can work on automating your rational decisions. That means setting up your accounts to save on a periodic basis so you dollar cost average into the market. You can also automatically set your accounts to be re-balanced back to your target asset allocation weights. This will force you to periodically buy low and sell high, the opposite of our irrational choices.
        Re-balance periodically
        Since you will have some investments that perform better than others their weights will increase and cause your portfolio to come out of balance. Setting up a periodic re-balance (quarterly or semi-annually should do it) forces you to sell your winners and buys your laggards. If you choose a simple allocation of 75% stocks and 25% bonds and stocks rise to 80% of your portfolio because of large gains, you will know what to do. Sell some stocks and buy some bonds to get back to your target weights. It won’t feel like the right thing to do, but that’s the point of controlling our biases that force us into bad decisions.
        Learning how to pinpoint our irrational behaviors and learn from them can be a healthy exercise. It will give you the correct long-term perspective you need to become a successful investor. More importantly it will help you achieve your financial and personal goals.