domain, domain name, premium domain name for sales
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính - Tiền tệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính - Tiền tệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Đại cương về tiền tệ, p7

VI. NHẬN ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỰ DO - HẬU BRETTON WOODS


1) Chế độ tiền tệ Jamaica – Bút tệ SDR

Hạn chế là SDR chỉ sử dụng cho những quốc gia thành viên của IMF. Thêm nữa, do đây là bút tệ, không phải tiền mặt nên không phổ biến trong lưu thông như USD.

Bên cạnh đó, USD có từ lâu và mọi hàng hoá do đã được định theo tiêu chuẩn USD nên khi buôn bán các giao dịch cũng dựa trên USD. Mỹ lại là một nước chiếm tỷ lệ giao dịch thương mại rất lớn trên thế giới và đồng thời lại là nước đóng góp quỹ cho các tổ chức như IMF, WB… nhiều nhất. Đây cũng là một yếu tố quan trọng khiến USD đứng vững.

Chính vì những lý do trên mà dù có từ 1969 nhưng SDR vẫn ít được sử dụng. Thậm chí, ngay cả những quốc gia thành viên IMF khi giao thương với nhau thì cũng sử dụng USD là chủ yếu.


2) Đồng EUR

Việc ra đời đồng EUR tạo ra những thuận lợi cho trao đổi thương mại trong khu vực. Thêm nữa, EUR đồng thời cũng là một công cụ dự trữ tốt bên cạnh các ngoại tệ khác như USD.

Tuy nhiên, đồng EUR hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong đó rõ nhất là tình trạng xung đột lợi ích giữa các quốc gia. Do trong liên minh có những quốc gia có nền kinh tế mạnh và yếu khác nhau nên các quốc gia mạnh phải giúp đỡ vực dậy các quốc gia yếu hơn để tránh đồng tiền bị chết. Cụ thể, cuộc khủng hoảng nợ hiện nay của các nước như Hy Lạp, Ai-len và của những quốc gia khác đang trên bờ vực như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý đã làm cho những nước như Đức và Pháp phải bỏ tiền thuế của dân vào cứu những nước đó, khiến cho dân chúng những nước đó phản đối kịch liệt.


Người viết: xuanlanvu@yahoo.com



TÀI LIỆU THAM KHẢO


Mankiw N. Gregory, Nguyên lý Kinh tế học, NXB Thống Kê 2003
Paul A. Samuelson & William D. Nordhalls, Kinh tế học – tái bản lần thứ nhất, NXB Tài chính, 2007
David A. Moss, người dịch: Châu Văn Thành, Hướng dẫn tóm tắt về Kinh tế học vĩ mô – Những điều các nhà quản lý, các nhà điều hành và sinh viên cần biết, Harvard Business School Press 2007
TS. Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ Ngân hàng, NXB Thống Kê 2009
Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, in lần thứ 10, NXB Đà Nẵng 2004
Bernard Guerrine, người dịch: Nguyễn Đôn Phước, Từ điển phân tích kinh tế, NXB Tri Thức 2007


Các trang web:

www.saga.vn
www.vi.wikipedia.org
www.imf.org 
www.nghiatq.wordpress.com
www.chieuxua.com/forums/viewtopic.php?t=2421
www.didyouknow.org/creditcards/
http://www.ecb.int
http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html

Đại cương về tiền tệ, p6

IV. SỰ SỤP ĐỔ CỦA BẢN VỊ VÀNG


Tuy có ưu điểm là khan hiếm nên giá trị được đảm bảo. Nhưng hạn chế của Bản vị vàng cũng từ ưu điểm này mà ra. Do nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát, hàng hoá ngày càng sản xuất ra nhiều hơn nhưng vàng thì lại có hạn nên nếu theo chế độ bản vị vàng thì hàng hoá sẽ bị giảm phát. Vì thế, người ta phải tìm thứ khác có giá trị để thay thế. Bên cạnh đó, việc thanh toán, dự trữ vàng gặp nhiều khó khăn khi vận chuyển, bảo quản tốn nhiều chi phí.

Thêm nữa, việc phụ thuộc vào Bản vị vàng sẽ khiến cho các chính phủ khó can thiệp vào thị trường thông qua chính sách tiền tệ do giá trị đồng tiền quốc gia được neo vào vàng. Việc nắm giữ nhiều vàng cũng không cho thấy được hoàn toàn về sức mạnh kinh tế hay bình ổn của quốc gia. Nhật Bản là một nước có nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới nhưng lượng vàng dự trữ lại ít hơn rất nhiều so với cần thiết như các nước khác.


V. SỰ SỤP ĐỔ CỦA HỆ THỐNG GENOVA & BRETTON WOODS


1) Sự sụp đổ của hệ thống Genova

Đại chiến thế giới thứ nhất qua đi khiến nước Anh bị thiệt hại nặng và đồng thời cả châu Âu bị tụt hậu so với Mỹ. Từ đây, đồng Bảng Anh dần bị mất vị thế trên thị trường để nhường vị trí cho đồng đô la Mỹ.


2) Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood

Sau khi đồng USD được xem là đồng tiền tiêu chuẩn của thế giới trong giao dịch thương mại và dự trữ thì một thời gian sau đến nước Mỹ bị thâm hụt thương mại. Do chi tiêu quá nhiều vào chiến tranh, cộng với chi tiêu phúc lợi cho xã hội của Mỹ quá cao nên Mỹ bắt đầu in thêm tiền, dẫn đến hậu quả lạm phát. Cùng lúc đó, các nền kinh tế của Nhật, Đức lại bắt đầu hồi phục và phát triển, thặng dư tại những nước này tăng dần. Các nước này sau đó lấy USD thặng dư để mua vàng của Mỹ theo một giá cố định quy ước ban đầu khiến dự trữ vàng của Mỹ cạn dần. Để chống lại việc này Mỹ đã ngừng việc chuyển đổi và thả nổi giá vàng vào năm 1973. Việc Mỹ lạm phát nên đồng USD mất giá so với các đồng tiền khác nhưng các nước như Đức, Nhật và Thụy Sĩ lại từ chối việc cân bằng tỷ giá như thoả thuận đã ký trong Hiệp định khiến cho USD giảm giá mạnh. Vì những lý do đó, hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào năm 1971.


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________

[1] Liên minh châu Âu dùng đồng EUR. Nhưng trước khi đồng EUR được lưu thong rộng rãi thì SDR dựa vào đồng Mác Đức và Franc của Pháp.

[2] http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://www.ecb.int/euro/exchange/html/index.en.html&rurl=translate.google.com.vn&twu=1&usg=ALkJrhhWs3MdWUxEMHdXlvkyowOEDKT29A

[3] http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html

Đại cương về tiền tệ, p5



c) Chế độ tiền tệ Jamaica – Bút tệ SDR

Là một loại tiền tệ do quỹ tiền tệ quốc tế IMF tạo ra vào năm 1969 nhằm hoàn thiện hệ thống Bretton Woods. Chế độ này thừa nhận SDR (Special Drawing Right) là công cụ dự trữ tiêu chuẩn mới bên cạnh vàng và USD.

Trước đây, SDR được định giá dựa vào vàng và USD. Tuy nhiên, sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ thì SDR định giá dựa trên một “rổ tiền tệ” gồm 4 đồng tiền mạnh và ổn định của 4 cường quốc sau Mỹ (USD), Nhật (JPY), Anh (GBP) và Liên minh châu Âu ECB (EUR)[1]. “Rổ tiền tệ” này sẽ được quyết định bởi Hội đồng điều hành mỗi năm năm một lần. Lãi suất thì được công bố hàng tuần dựa trên bình quân gia quyền của lãi suất các đồng tiền trong “rổ tiền tệ”.

Quốc gia giữ SDR có thể chuyển đổi sang tiền bất cứ lúc nào thong qua 2 cách: hoặc thoả thuận với quốc gia thành viên khác hoặc sẽ bán cho một quốc gia thành viên được IMF chỉ định.


d) Đồng EUR

Trước sự bành trướng của Mỹ, châu Âu nhằm mục đích đối trọng với Mỹ đã thành lập ra một lien minh châu Âu gồm 15 nước thành viên là những nước thuộc khu vực châu Âu là Anh, Ai-len, Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ý, Lu-xem-bua, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha và Thụy Điển. Sau khi thành lập lien minh châu Âu, cũng vì muốn có đồng tiền riêng của khu vực để giao dịch thương mại tiện lợi và cũng vì muốn cạnh tranh với USD nên đồng Euro (EUR) ra đời.

EUR trước 16/12/1995 thì gọi là đồng ECU và chỉ dùng như bút tệ là chủ yếu. Sau này, kể từ 1/1/2002 thì đồng EUR mới được in và sử dụng rộng rãi trong dân. Lúc đầu, EUR cùng tồn tại song song với đồng nội tệ của các quốc gia và người dân được quy định hạn định phải đổi sang đồng EUR để sử dụng. Tại các quốc gia khác nhau thì hạn định này cũng khác nhau nhưng thong thường là từ tháng 2 đến hết tháng 6 năm 2002. Riêng tại Đức, Ai-len, Tây Ban Nha, Áo và Estonia thì đồng nội tệ có thể được đổi sang EUR bất kỳ lúc nào mà không quy định hạn thời gian cụ thể.[2]

EUR gồm 2 loại: tiền kim loại và tiền giấy. Tiền kim loại có mặt trước giống nhau nhưng khác nhau ở mặt sau tại những quốc gia khác nhau. Tiền giấy thì thống nhất trên toàn lien minh châu Âu.

Việc đổi đồng nội tệ của mình sang EUR thì phải theo một tỷ giá cố định đã quy ước sẵn. Tỷ giá này gồm 6 số lẻ nhằm hạn chế việc sai số lớn. Tỷ giá được quyết định dựa trên lượng dự trữ vàng và ngoại tệ của các quốc gia đó.[3]


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________


[1] Liên minh châu Âu dùng đồng EUR. Nhưng trước khi đồng EUR được lưu thong rộng rãi thì SDR dựa vào đồng Mác Đức và Franc của Pháp.

[2] http://translate.googleusercontent.com/translate_c?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://www.ecb.int/euro/exchange/html/index.en.html&rurl=translate.google.com.vn&twu=1&usg=ALkJrhhWs3MdWUxEMHdXlvkyowOEDKT29A

[3] http://fx.sauder.ubc.ca/ECU.html

Đại cương về tiền tệ, p4

III. BẢN VỊ TIỀN

Là hình thức tổ chức lưu thông[1] tiền tệ hay còn gọi là kiểu chế độ tiền tệ


1) Đơn bản vị bạc, Đơn bản vị vàng và Song bản vị vàng và bạc

Thời xưa, khi người ta dùng kim loại làm tiền, bạc và vàng là những kim loại quý được đúng thành tiền theo tiêu chuẩn hình dáng và trọng lượng nhất định rồi được đưa vào lưu thông. Sau này khi tiền giấy xuất hiện thì cũng được quy ước gắn liền với một giá trị bạc hay vàng tiêu chuẩn cụ thể. Nếu chỉ dựa vào bạc thì gọi là Đơn bản vị bạc, nếu chỉ dựa vào vàng thì gọi là Đơn bản vị vàng. Nếu dựa vào cả hai tiêu chuẩn bạc và vàng thì gọi là chế độ Song bản vị vàng và bạc.

Trong một nền kinh tế cùng tồn tại 2 loại tiền thì đồng tiền nào yếu sẽ loại đồng tiền mạnh. Đây cũng là nội dung của định luật Gresham “Trong một quốc gia khi nào hai thứ tiền tệ cùng được luật pháp công nhận theo một giá đổi chính thức thì đồng tiền xấu sẽ dần dần đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông.”[2]


2) Bản vị ngoại tệ

a) Chế độ tiền tệ Genova
Được hình thành dựa trên những thoả thuận giữa các nước tham gia Hội nghị tiền tệ quốc tế tổ chức tại Genova, Ý vào năm 1922. Các nước thừa nhận đồng Bảng Anh là đồng tiền chính trong thanh toán và dự trữ. Chế độ tiền tệ này còn gọi là Bản vị Bảng Anh.


b) Chế độ tiền tệ Bretton Woods
Sau Thế chiến lần 2, do không bị thiệt hại từ chiến tranh phải tái thiết lại như những nước châu Âu, Mỹ trở thành một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và đồng thời là nước có lượng vàng dự trữ lớn nhất. Tháng 7 năm 1944, Mỹ đã đứng ra tổ chức Hội nghị tiền tệ quốc tế tại Bretton Woods với sự tham gia của 44 quốc gia. Hệ thống tài chính Bretton Woods ra đời với các tổ chức Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) cùng với việc thừa nhận đồng USD là đồng tiền tiêu chuẩn trong dự trữ và thanh toán quốc tế. Các đồng tiền quốc gia khác phải gắn chặt với USD theo một tỷ giá cố định. Và vàng sẽ được gắn một giá cố định là 1 ounce vàng có giá 35USD.

Các quy định của chế độ tiền tệ Bretton Woods yêu cầu ngân hàng trung ương các quốc gia thành viên có trách nhiệm giữ tỷ giá các đồng tiền quốc gia mình luôn theo tỷ giá cố định đã quy định, nghĩa là họ phải can thiệp vào thị trường ngoại hối, bán đồng nội tệ để mua đồng USD đẩy giá trị đồng nội tệ quốc gia đó xuống nếu đang bị cao hơn hay mua đồng nội tệ nước mình vào để đẩy giá đồng tiền đó lên khi nó đang bị thấp.


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________

[1] Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, trang 31, NXB Đà Nẵng – 2004, in lần thứ 10

[2] TS Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ ngân hàng, trang 44, NXB Thống Kê 2009

Đại cương về tiền tệ, p3


II. CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ

Gồm bốn chức năng cơ bản[1]



1) Chức năng trao đổi

Đây là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ[2]. Nhờ thong qua trung gian là tiền tệ mà từ nay mỗi khi muốn mua bán, trao đổi món gì đó người ta không còn phải mắc công tìm kiếm cho được người có những món hàng mà mình cần và đồng thời người đó cũng phải có nhu cầu món hàng của họ.

Ví dụ trước đây ông A có 2 cái áo và muốn đổi 1 cái để lấy bánh mì thì phải đi tìm người nào đó muốn mua áo nhưng lại phải có bánh mì mà ông A cần. Giờ đây, khi có tiền tệ, ông A chỉ việc bán cái áo cho người nào cần áo và lấy tiền để sau đó có thể đi mua bánh mì của người nào khác có bánh mì.


2) Chức năng đo lường giá trị

Là chức năng đo lường giá trị của hàng hoá bằng một con số (tiền) cụ thể, giúp tiện lợi trong thanh toán, trao đổi, tính toán lời lỗ.


3) Chức năng tích trữ

Khi thu nhập bắt đầu nhiều hơn, người ta bắt đầu để dành, tiết kiệm hoặc đầu tư cho tương lai.


4) Chức năng thanh toán hoãn hiệu

Nhờ chức năng này mà tín dụng mới phát triển. Người đi vay và người cho vay chỉ việc xác định giá trị vay thong qua trung gian là giá trị tiền, và sau đó người đi vay chỉ việc trả theo đúng giá trị vay cộng với phần chi phí vay đã thoả thuận.


--- CÒN TIẾP ---

________________________________________

[1] Sách Tiền tệ & ngân hàng của TS Nguyễn Minh Kiều ghi 4 chức năng. Tuy nhiên, sách Kinh tế học của Mankiw và của Paul Samuelson thì chỉ ghi 3 chức năng đầu: đo lường giá trị, trao đổi và tích trữ.

[2] Đây là nhận xét của Paul Samuelson, Kinh tế học – tập 2, trang 213, NXB Tài chính 2007 & của Bernard Guerrien, Từ điển phân tích kinh tế, trang 682, NXB Tri Thức 2007. Bernard Guerrien chỉ rõ đối với tiền tệ thì chức năng trao đổi là đặc trưng nhất, vì người ta có thể dùng những hang hoá khác để làm công cụ tích trữ, để dành và đối với chức năng đo lường giá trị thì cũng có thể sử dụng những hang hoá khác miễn là hang hoá đó có giá trị lớn hơn không.



 

Đại cương về tiền tệ, p2



2)   Tín tệ


Lúc đầu khi chính phủ chưa can thiệp, trên thị trường có nhiều loại tiền giấy chủ yếu do các thương nhân, ngân hàng phát hành chọn và đưa ra sử dụng nên chưa thống nhất.

Khoảng thế kỷ 17, khi chính phủ có sự can thiệp vào thị trường tiền[1] thì tiền giấy được phát hành thống nhất bởi một ngân hàng phát hành gọi là ngân hàng trung ương. Do tiền chỉ được ngân hàng trung ương phát hành và được chính phủ bảo vệ, không phải cá nhân nào cũng được phát hành nên tiền được đảm bảo giá trị và được dân chúng chấp nhận sử dụng. Từ đây, thời kỳ tiền giấy bắt đầu lên ngôi.

Lúc đầu, tiền giấy khi được sử dụng được gán cho một giá trị nào đó của kim loại quý như vàng, bạc[2] và người dân có thể dùng tiền giấy để đổi lại vàng bạc hay dùng vàng bạc để đổi tiền giấy tương ứng giá trị, gọi làtiền giấy khả hoán. Về sau nền kinh tế hàng hoá càng phát triển nhiều, trao đổi tăng nhưng lượng kim loại thì có hạn nên giá trị này chủ yếu được nhà nước quy định bằng luật nên còn gọi là tiền pháp định, tín tệ [3] hay được xác định khi giao dịch trao đổi hàng hoá trên thị trường[4]. Tín tệ không thể đổi ra vàng bạc nên gọi làtiền giấy bất khả hoán.

Tuy nhiên, cũng có khi chính phủ lựa chọn sử dụng loại tiền đó nhưng dân chúng lại sử dụng loại đơn vị tiền tệ khác để giao dịch. Đó là khi sức mua của nó không còn ổn định, lạm phát tăng, đồng tiền mất giá liên tục khiến người dân bất an, cảm thấy bị thiệt nên không còn muốn cầm giữ đồng tiền đó.


3)   Bút tệ

Là loại tiền vô hình, phi vật chất. Nó là những con số dư trên sổ sách, tài khoản ở ngân hàng, được tạo thành thông qua hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Theo nghĩa hẹp thì bút tệ chỉ bao gồm những khoản tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là loại tiền này có thể chuyển đổi dễ dàng sang tiền mặt, có những chức năng giống tiền mặt. Những loại tiền tiết kiệm có kỳ hạn chỉ được xem là gần như tiền, chứ không phải là tiền. Bút tệ có một số ưu điểm khác là an toàn, dễ vận chuyển, bảo quản


4)   Tiền điện tử

Khi công nghệ thong tin ra đời và được ứng dụng khiến thương mại điện tử được sử dụng phổ biến hơn thì tiền điện tử ra đời. Đây là những loại thẻ tín dụng, thẻ thanh toán ATM được phát hành bởi những ngân hàng hay doanh nghiệp lớn và uy tín.[5]


--- CÒN TIẾP ---

 ________________________________________


[1] Nguyễn Minh Kiều, Tiền tệ & ngân hàng, trang 36, NXB Thống kê 2009

[2] Xem thêm phần Bản vị tiền tệ ở phần sau

[3] Mankiw N. Gregory, Kinh tế học, tập 2, trang 126, NXB Thống kê 2003

[4] David A. Moss, người dịch: Châu Văn Thành, Hướng dẫn tóm tắt về Kinh tế học vĩ mô, Những điều các nhà quản lý, các nhà điều hành và sinh viên cần biết – Moss 2007, Harvard Business School Press

[5] Lịch sử thẻ tín dụng thực ra có từ năm 1730 khi một doanh nhân tên là Christopher Thornton vì muốn phát triển kinh doanh nên đưa ra ý tưởng bán trả góp những mặt hang nội thất. Nhưng thời này thì thẻ chỉ mới làm bằng gỗ và chỉ sử dụng trong vài cửa hàng.
Xem link: http://chieuxua.com/forums/viewtopic.php?t=2421, http://didyouknow.org/creditcards/

Đại cương về tiền tệ, p1

Tiền là Tiên, là Phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khoẻ của tuổi già,
Là cái đà tiến thân,
Là cán cân công lý,
Đồng tiền thật hết ý!


Hãy nghe dân gian nói thì biết thì tiền đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của chúng ta. Đối với cá nhân nếu không có tiền thì sẽ không mua được hàng hoá, dịch vụ thoả mãn nhu cầu, sở thích của mình. Còn đối với nền kinh tế chung của xã hội thì sản xuất sẽ thụt lùi, vì sản xuất ra mà người mua hoặc không có tiền để mua hay chỉ có những món hàng không như mong muốn của người bán thì sẽ không tạo động cơ để người ta tiếp tục sản xuất nữa.

Sách Kinh tế học của Samuelson định nghĩa về Tiền như sau:
Tiền là bất kỳ vật gì hoạt động như một phương tiện trao đổi hay phương tiện thanh toán được chấp nhận rộng rãi.”[1]

Trong Tự điển phân tích kinh tế của Bernard Guerrin thì định nghĩa:
Tiền tệ là một vật phẩm được dùng vừa làm phương tiện trao đổi, phương tiện dự trữ và vừa là đơn vị tính toán (sản phẩm thước đo). Tiền tệ có thể có dạng “hữu hình” (đồng kim loại, tiền giấy) hoặc “vô hình” (ký tự trong tài khoản một ngân hàng hay một thể chế bất kỳ nào khác).[2]


I. HÌNH THÁI CỦA TIỀN TỆ

Đây là những hình thức biểu hiện của tiền từ khi mới hình thành đến nay. [3]


1) Hoá tệ

a) Hoá tệ phi kim loại

Đây là hình thức tiền tệ cổ xưa nhất. Khi đó, người ta sử dụng các hàng hoá được ưa chuộng và thông dụng nhất để thực hiện chức năng của tiền, dùng để làm thước đo trong trao đổi buôn bán. Các hàng hoá này thường là rượu, thuốc lá, trà, vỏ sò, động vật… Tuy nhiên, do hình thức này bất tiện vì khó cất giữ, vận chuyển, dễ hư hỏng, khó chia thành đơn vị nhỏ... và những con người với những nhu cầu khác nhau tại những thời điểm, không gian khác nhau nên hình thức này dần dần ít được sử dụng.


b) Hoá tệ kim loại

Dần về sau, người ta biết sử dụng những công cụ bằng kim loại để đưa vào sản xuất, năng suất tăng dần. Hàng hoá trong nền kinh tế xã hội càng nhiều hơn. Xã hội càng phát triển, nhu cầu trao đổi tăng hơn. Người ta bắt đầu nhận ra được những thuộc tính của kim loại như vận chuyển, bảo quản, chia nhỏ… dễ dàng hơn, có thể khắc phục cho nhược điểm của hoá tệ phi kim loại và họ bắt đầu dùng chúng để đúc thành tiền. Tiền kim loại ra đời.

Tiền kim loại tồn tại chủ yếu là do giá trị nội tại của kim loại chứa trong tiền. Tiền kim loại chia làm hai loại:

  • Tiền kim loại thông thường
  • Tiền kim loại quý hiếm: sử dụng kim loại vàng và bạc. Tuy nhiên đối với những kim loại này do ít nên chỉ dùng trong trao đổi hàng hoá số lượng lớn hay giá trị cao. Bởi khi đó nếu dùng loại tiền kim loại thông thường thì số lượng quá nhiều vận chuyển sẽ khó khăn. 


--- CÒN TIẾP ---


________________________________________


[1] Samuelson A. Paul và Nordhalls D. William, Kinh tế học – tập 2, trang 201, NXB Tài chính 2007, tái bản lần thứ nhất

[2] Bernard Guerrin, Từ điển phân tích kinh tế, trang 682, NXB Tri Thức 2007
[3] Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, trang 442, NXB Đà Nẵng – 2004, in lần thứ 10