domain, domain name, premium domain name for sales
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Kinh tế học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Kinh tế học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p10, ROBERT OWEN


ROBERT OWEN (1771 – 1858)

Ông là người tiên phong của chủ nghĩa xã hội Anh, nhân vật hàng đầu trong phong trào Chủ nghĩa xã hội không tưởng suốt đầu thế kỷ 19.

Ông sinh ra trong một gia đình bình thường ở một thị trấn nhỏ miền Trung xứ Wale. Ông được học rất ít ở trường mà chủ yếu tự học.

Năm 10 tuổi, ông cùng với anh trai lên đường đi Londonđể làm giàu. Ông đã làm qua nhiều công việc khác nhau. Thời gian sau, ông và vài đối tác hùn vốn mua lại nhà máy của cha vợ và từ đây ông bắt đầu đem lý thuyết cải cách xã hội ứng dụng vào thực tế tại nhà máy này.

Khi mới tiếp quản New Lanark, cả vùng chỉ có 1.500 gia đình và khoảng 500 trẻ em cơ nhỡ. Điều kiện sống và làm việc của họ tồi tệ, không đảm bảo vệ sinh. Trộm cắp, say rượu xảy ra thường xuyên. Phúc lợi là điều không tưởng. Ông đã yêu cầu công nhân đóng góp 1/6 lương của họ vào quỹ và ông bắt đầu xây dựng thêm một tầng trên để mỗi gia đình có hai phòng ở. Ông cũng cho xây dựng đường sá, thu gom rác, đặt hàng hoá thiết yếu giá thấp, lập quỹ cộng đồng chung, chống lại lao động trẻ em, không thuê lao động trẻ em dưới 10 tuổi, xây dựng công viên và sân chơi cho trẻ em, giáo dục trẻ từ 1 đến 10 tuổi miễn phí…

Sau vài năm ông đã biến New Lanark thành cộng đồng điển hình và ông được công nhân tôn sùng. Tuy nhiên, ông bị áp lực vì mục tiêu lợi nhuận bởi những người đồng sở hữu và cả đối thủ cạnh tranh. Từ đó ông nhận ra rằng những cải cách của ông phải được thực hiện trên toàn xã hội thì mới thật sự có hiệu quả.

Nhờ ông vận động mà đạo luật công xưởng lần đầu tiên được thông qua năm 1819. Dù đạo luật không được hiệu quả hoàn toàn nhưng một nguyên tắc quan trọng đã được hình thành. Lần đầu tiên chính phủ đã quy định hoạt động kinh doanh của các chủ nhà máy và nhà nước đã có trách nhiệm bảo vệ những người quá yếu ớt không đủ sức bảo vệ mình.

Năm 1815 do chiến tranh với Pháp kết thúc. Cầu hàng hoá giảm dẫn đến nạn thất nghiệp lan tràn. Ông đưa ra lập luận thay vì Bảo hiểm thất nghiệp thì chính phủ nên xây dựng các làng nhỏ để mọi người trong làng tự cung cấp hàng hoá cho chính họ. Thế nhưng kế hoạch của ông bị giễu cợt và không được thực hiện.

Năm 1824, ông sang Mỹ với hy vọng ý tưởng của ông sẽ được áp dụng tại Tân thế giới. Nhưng cuối cùng cũng lại thất bại.

Những năm cuối đời ông thất vọng, bi quan hơn và mất hẳn những lạc quan thời tuổi trẻ.

Dù không phát hiện ra quan hệ kinh tế, không mô hình, lý thuyết hay phân tích nào nhưng đóng góp quan trọng nhất của ông chính là quan điểm không tưởng về một xã hội hoàn hảo.


--- CÒN TIẾP ---

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p9, THOMAS ROBERT MALTHUS


THOMAS ROBERT MALTHUS (1766 – 1834)

Ông là nhân vật gây nhiều tranh cãi nhờ học thuyết dân số nổi tiếng.

Ông được sinh ra trong một gia đình đại địa chủ giàu có nên ông được thừa hưởng sự giáo dục tốt.  Lúc nhỏ, cha ông dạy ông tại nhà. Về sau ông học gia sư, rồi đi học tại trường tư. Sau đó thì học tại trường Đại học Jesus.

Năm 1788, ông trở thành Đức cha Malthus.

Năm 1793, ông làm giảng viên của trường Jesus và làm cha phó xứ của Okewood.

Trong một lần tranh luận với cha ông về khả năng cải thiện điều kiện kinh tế của con người, ông đã đọc vài cuốn sách và viết tiểu luận về dân số. Tiểu luận này được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1798. Cuốn tiểu luận đã giúp ông trở nên nổi tiếng và sau đó vào năm 1805 ông nhận chức giáo sư lịch sử, chính trị học, thương mại và tài chính tại trường Tân Đông Ấn gần London, nơi chủ yếu đào tạo những người sẽ đảm nhận vị trí quản lý công ty Đông Ấn[1] ở Ấn Độ.

Trong cuốn Tiểu luận về dân số, Malthus đưa ra những lập luận chống lại những người thuộc trường phái chủ nghĩa không tưởng khi cho rằng có thể cải thiện đời sống kinh tế của con người. Malthus cho rằng điều đó là không thể bởi nghèo đói và cơ cực là số phận không thể tránh khỏi của phần lớn con người trong xã hội. Hơn thế nữa, mọi nỗ lực sẽ chỉ làm mọi việc xấu hơn. Bởi giả sử nếu có cải cách xã hội khiến người nghèo giàu hơn thì các gia đình lao động nghèo đó sẽ lại nhanh chóng sinh thêm nhiều con để rồi họ lại nghèo trở lại. Vì thế, ông chống lại bất kỳ những nỗ lực nào nhằm giúp đỡ người nghèo. Ngoài ra, đất đai là có hạn, quy luật lợi suất giảm dần cũng khiến cho những mảnh đất mới sẽ tạo ra ít lương thực hơn trước nên khi dân số tăng thì chắc chắn sẽ dẫn đến thiếu lương thực và dẫn đến đói nghèo.

Tiểu luận về địa tô, ông định nghĩa lợi nhuận chính là phần trả cho nhà tư bản về đóng góp của anh ta vào sản xuất hàng hoá và anh ta xứng đáng được hưởng nó bởi những công nhân có máy móc công cụ thì có năng suất cao hơn những công nhân không có trang thiết bị đó. Ngoài ra, độ màu mỡ khác nhau giữa những mảnh đất sẽ là nguyên nhân khiến địa tô nhận được khác nhau. Vì vậy địa tô cao chính là kết quả của sự thịnh vượng về kinh tế và là thước đo cho sự thịnh vượng. Ông cũng giải thích nguyên nhân sự dư thừa hàng hoá là do cầu không đủ hay chi tiêu quá ít, còn giá cả tăng cao là do chi tiêu nhiều trong nền kinh tế.

Cuốn Những nguyên lý kinh tế chính trị học, ông giải thích nguyên nhân sự suy thoái của nước Anh lúc đó là do nhà tư bản nhận được thu nhập quá nhiều nên khi đầu tư máy móc, thuê nhân công vận hành khiến chi phí tăng cao, nhà tư bản ít lời thì họ muốn giữ tiền hơn là đầu tư. Ngoài ra, sử dụng máy móc khiến cho tăng năng suất nhưng giảm số lượng nhân công nên làm tăng thất nghiệp. Vì vậy cần đánh thuế nhà tư bản. Đối với tầng lớp địa chủ, ông tin rằng họ sẽ chi tiêu hầu hết thu nhập của họ hoặc là thuê người phục vụ hoặc là mua sắm xa xỉ. Vì vậy không nên đánh thuế địa chủ.

Ông là vị tiền bối quan trọng đối với trường phái Keynes do sự giải thích về suy thoái hay dư thừa của nền kinh tế (dư thừa là do cầu không đủ hay chi tiêu quá ít và ngược lại suy thoái là do hàng hoá tăng giá khi chi tiêu quá nhiều). Ngoài ra, tên của ông gắn liền với thuật ngữ Malthusian luôn mang hàm ý bi quan về khả năng cải thiện đời sống kinh tế của loài người. Ông cũng là nhân vật đại diện cho trường phái Hậu cổ điển - Kinh tế chính trị học tầm thường.



[1] Xem thêm công ty Đông Ấn ở bài viết về Thomas Mun.


--- CÒN TIẾP ---

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p8, JEREMY BENTHAM


JEREMY BENTHAM (1748 – 1832)

Ông nổi tiếng với vai trò là nhà triết học và nhà cải cách xã hội.

Ông được sinh ra trong một gia đình giàu có, cha là luật sư. Ông được cho là đã thuộc long bảng chữ cái từ trước khi biết nói.

Dù học và được phong luật sư vào năm 1769 nhưng chưa bao giờ ông hành nghề luật sư. Điều này một phần do ông không thích luật. Nhưng quan trọng hơn, ông mong muốn thay đổi thế giới hay ít nhất là cải thiện tình hình ở Anh nên đọc rất rộng trong lĩnh vực triết học và học thuyết chính trị. Ông đóng vai trò là nhà cải cách xã hội và cố gắng thuyết phục các nhà chính trị và công chúng Anh thực hiện những đường hướng do ông vạch ra để nâng cao đời sống tại Anh. Những khuyến nghị của ông như kiểm soát tỉ lệ sinh, trao quyền bầu cử cho người trưởng thành kể cả phụ nữ, hợp pháp hoá các tổ chức đoàn thể, phát triển dịch vụ dân sự và cải cách đạo luật nhà tù và hình phạt… khiến ông trở nên nổi tiếng và trở thành người lãnh đạo nhóm “phái cấp tiến triết học”.

Đóng góp đáng kể duy nhất của ông vào kinh tế học là cuốn Bảo vệ cho vay nặng lãi, được xuất bản vào năm 1787. Ông cho rằng quy định trần lãi suất là không hợp lý và sẽ gây hậu quả tiêu cực vì sẽ khiến cho những người không vay được sẽ phải vay với lãi suất cao hơn, nhất là người nghèo không có mối quan hệ quen biết để nhờ cậy. Ngoài ra, những bộ luật tồi sẽ khiến cho long tin và quan hệ xã hội, kinh tế bị phương hại. Adam Smith lúc đầu ủng hộ luật cho vay nặng lãi nhưng sau khi đọc xong sách của ông đã thừa nhận sai lầm và cũng đồng ý không nên có sự can thiệp của nhà nước vào lãi suất.

Ngoài ra, Bentham còn nổi tiếng với tác phẩm Giới thiệu về các nguyên lý đạo đức học và pháp luật. Ông đưa ra ý niệm về lợi ích và quan điểm tối đa hoá lợi ích vào phân tích kinh tế. Mục tiêu cần làm là làm bất cứ gì để tối đa hoá niềm vui ròng hay tổng niềm vui trừ đi tổng đau đớn.
  • Ông cho rằng con người có thể đo lường được niềm vui và đau đớn của bản thân dựa trên 7 khía cạnh: cường độ, thời gian, độ chắc chắn, sự gần gũi hay xa cách, sự phong phú, sự thuần khiết và số cá nhân có thể san sẻ niềm vui đó. Ông cũng nêu ra 14 loại niềm vui thường gặp như giàu có, hiểu biết, quyền lực, thanh danh, trí tưởng tượng phong phú, lòng tốt và sự ác ý… hay 12 sự đau đớn thường gặp như thất vọng, hối tiếc và ham muốn…
  • Ông cũng xác định những yếu tố khác ảnh hưởng đến niềm vui và nỗi đau như sức khoẻ, giới tính, tuổi tác, giáo dục và sức mạnh ý chí. Bentham cho rằng tất cả các niềm vui là bình đẳng bất kể nguồn gốc của chúng vì niềm vui là như nhau nên chính sách không nên chỉ ủng hộ cho người giàu.
  • Bentham cho rằng nhà nước có thể giúp tăng hạnh phúc ròng cho công dân qua giáo dục để tăng hiểu biết hay để hành động có đạo đức hay dùng luật pháp để trừng phạt những hành động không tối đa hoá hạnh phúc.

Cuốn Cẩm nang Kinh tế chính trị học của ông là tác phẩm lần đầu tiên đã sử dụng việc xem xét chi phí – lợi ích trong việc đánh giá chi tiêu công cộng. Ông cho rằng nếu lợi ích từ chi tiêu nhà nước hơn chi tiêu do thuế gây ra thì nên tiến hành chi tiêu và ngược lại.

Dẫu rằng thuyết lợi ích của ông còn nhiều khó khăn trong việc so sánh vì sự không rõ ràng giữa lợi ích của người này là nỗi đau của người khác hay sự mâu thuẫn kỳ lạ giữa đạo đức và lợi ích, công bằng và hạnh phúc của mọi người nhưng bằng việc đưa ra sự giải thích về nguyên lý lợi ích chi tiết cũng như lập luận về việc sử dụng ý niệm này trong phân tích kinh tế học, Bentham xứng đáng với danh hiệu “cha đẻ của chủ nghĩa vị lợi”.


--- CÒN TIẾP ---

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p7, ADAM SMITH


ADAM SMITH (1723 – 1790)

Ông được hầu hết mọi người coi là cha đẻ của Kinh tế học do cách nhìn nhận của ông về chủ nghĩa tư bản như một hệ thống kinh tế giúp người ta đều có thể giàu lên. Ông là người đầu tiên thấy được lợi ích từ việc có cạnh tranh và ủng hộ nền kinh tế giảm bớt sự can thiệp của nhà nước nhằm ngăn tình trạng độc quyền.

Smith sinh năm 1723, ở một thị trấn nhỏ gần Edinburgh, Scotland. Cha ông là một luật sư, mất trước khi ông sinh ra. Ông được mẹ và những người bảo trợ theo di chúc của cha ông nuôi nấng. Ông là người có niềm đam mê rất lớn đối với sách vở. Vào tuổi 14, ông được gửi tới trường Đại học Glasgow, nơi ông nghiên cứu đạo đức, toán học và kinh tế chính trị.

Năm 1740, ông giành được học bổng đi Oxford và học tại trường Balliol trong 6 năm sau đó. Do thời lượng bài giảng ít nên ông dành nhiều thời gian học tập và nghiên cứu ở thư viện, đặc biệt cho những môn văn học, triết học và lịch sử.

Năm 1751 ông được mời làm Giáo sư về Logic tại đại học Glasgow, sau đó 1 năm thì làm Giáo sư Triết học đạo đức.

Tác phẩm thành công đầu tiên của ông là Lý thuyết về những xúc cảm đạo đức, giải thích cách thức con người tiếp nhận những cảm giác đạo đức cho phép họ phân biệt được đúng sai. Và nhờ tác phẩm này mà ông được mời làm gia sư cho Công tước Buccleuch tại Pháp. Công việc làm gia sư có nhiều thời gian rảnh rỗi để đọc và suy ngẫm cũng như nhờ ở Pháp nên ông có dịp gặp gỡ những người đứng đầu của phái trọng nông như Francois Quesnay. Ở Pháp 3 năm và sau đó ông dành 10 năm để hoàn thành tác phẩm Của cải của các dân tộc, xuất bản vào năm 1776 và tác phẩm này đã đem lại cho ông giàu có và danh tiếng.

Tác phẩm Của cải của các dân tộcvới lý thuyết Bàn tay vô hình đã giả định rằng con người hành động theo lợi ích cá nhân. Nhưng nó lập luận rằng một cá nhân trong lúc hành động vì bản thân sẽ vô tình mà đóng góp tốt cho cộng đồng.

Ông cũng cho rằng chính cơ khí hoá và phân công lao động giúp cho kinh tế tăng trưởng. Và điều này cũng được chứng minh bởi Cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh thời đó. Bởi phân công lao động sẽ giúp thao tác nhanh, bớt được thời gian chuyển từ khâu này sang khâu khác, công nhân tập trung hơn, không phải suy nghĩ nhiều và ít tốn sức hơn.

Thêm vào đó, ông cũng nhận thấy khi sản lượng tăng thì cần phải có xuất khẩu để bán được hàng hoá làm lợi cho nước Anh và cũng tránh sự dư thừa trong nước. Bên cạnh đó, nước ngoài cũng được hưởng lợi nhờ mua được hàng hoá giá rẻ từ nước Anh. Và vì vậy, ông ủng hộ thương mại tự do, chỉ trích đối với chính sách của chủ nghĩa trọng thương[1]. Ông phản đối việc đánh thuế ngay cả đó là đánh thuế trả đũa những nước đặt hàng rào đối với hàng hoá nước Anh bởi ông cho rằng một chính sách xấu không khắc phục được một chính sách xấu khác và rồi nếu có mất việc thì những người công nhân Anh cũng sớm tìm được việc ở những ngành nghề khác và có năng suất cao hơn. Và việc đánh thuế sẽ tạo ra sự phân bổ sai lệch hay không hiệu quả nguồn lực, gây ra tổn thất cho xã hội.

Ông chống lại độc quyền vì cho rằng độc quyền là kẻ thù của tự do thương mại, của tăng trưởng kinh tế nhanh. Ông nêu ra 4 hậu quả của độc quyền: giá cao, không hoàn thiện nhiều, quyền lực của độc quyền càng lớn càng dễ gây sức ép lên chính phủ và sự phân bổ sai và kém hiệu quả nguồn lực.

Tuy nhiên, ông cho rằng an ninh quốc gia quan trọng hơn sự giàu có. Nếu thương mại khiến cho quân sự nước khác mạnh hay nước Anh bị giảm sức mạnh thì không nên ủng hộ. Ông thấy được 4 chức năng quan trọng của nhà nước: ngăn chặn độc quyền, đảm bảo an ninh quốc phòng bằng cách chi tiêu vào quốc phòng, cảnh sát và toà án và cuối cùng là tác động ngoại lai (ngoại tác). Đó cũng là lý do ông ủng hộ Đạo luật Hải quân và chi tiêu vào quốc phòng…

Theo Smith lợi ích của cá nhân và quốc gia cùng tồn tại trong một chỉnh thể hài hoà sẽ dẫn đến phát triển kinh tế và thịnh vượng lâu dài. Vì vậy để chi tiêu công cộng thì cần thu thuế theo nguyên tắc:
  • Tỉ lệ: mọi người trả thuế với tỉ lệ như nhau từ thu nhập của họ. Khác với hiện nay thuế là dạng lũy tiến nhưng thời của ông thì người giàu chịu thuế ít hơn người nghèo, thuế lũy thoái.
  • Người nộp thuế phải biết rõ số thuế và hạn nộp. luật thuế cẩn phải ổn định và không nên thay đổi tùy tiện.
  • Đánh thuế vào thời điểm và theo phương pháp thuận tiện nhất cho người nộp. Ví dụ KHÔNG nên đánh thuế khi tài sản tăng giá trị mà NÊN đánh thuế khi tài sản được bán.
  • Thuế tốt nhất là thuế có chi phí thu ít nhất. Không nên xây dựng hệ thống thuế tận thu khiến quá nhiều người phải chịu thuế vì sẽ khiến người ta trốn thuế. Hình phạt cũng không nên quá khắc nghiệt khiến những người trốn thuế phải khuynh bại.

Cùng với Marx và Keynes, Smith được coi là một trong ba nhân vật quan trọng nhất trong Kinh tế học. Cho dù Smith có thực sự là cha đẻ của Kinh tế học hay không thì chắc chắn một điều ông là cha đẻ của lĩnh vực "tài chính công" khi miêu tả rõ vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy nền kinh tế, cũng như việc làm thế nào nhà nước có thể tăng thu ngân sách.


[1] Do phái Trọng thương đề cao vai trò của nhà nước trong việc can thiệp vào kinh tế như thu thuế để ngăn chặn nhập khẩu


--- CÒN TIẾP ---

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p6, DAVID HUME

DAVID HUME (1711 – 1776)

Ông là một nhà triết học nổi tiếng thế giới, người đã cho rằng sự hiểu biết chỉ có thể xuất phát từ kinh nghiệm. Những đóng góp cho kinh tế học bao gồm sự phân tích tác động của tiền lên nền kinh tế và nền thương mại giữa các quốc gia. Ông được xem như là nhân vật chuyển tiếp quan trọng giữa trường phái trọng thương và các nhà kinh tế cổ điển Anh, những người sẽ tiếp bước ông.

Hume sinh ra ở Edinburgh, Scotland vào năm 1711. Cha ông là một quý tộc nhưng mất khi ông còn nhỏ. Tuy sống với mẹ nhưng do cha ông để lại rất nhiều tiền nên ông vẫn được hưởng nền giáo dục tốt, chủ yếu qua gia sư. Sau đó ông đăng ký học ở đại học Edinburg, nghiên cứu về văn học cổ của Hy Lạp – La Mã. Tuy nhiên, sau đó ông quyết định thôi học, sang Pháp và trở thành một nhà triết học vĩ đại.

Không kiếm được một chỗ giảng dạy tại bất kỳ trường đại học nào tại Scotland nên ông chấp nhận làm gia sư cho Hầu tước Annandate vào năm 1745. Vài năm sau đó ông làm thư ký cho một đại tướng quân đội. Năm 1752, ông được thuê làm thủ thư tại Thư viện Advocate ở Edinburg, giúp ông tiếp cận nhiều với sách vở. Thành quả là những tác phẩm triết học phi thường cùng với pho Lịch sử nước Anh gồm 6 tập (1757-1762). Năm 1763, ông trở thành Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và sau đó 2 năm thì quay về Edinburg. Ông mất tại Edinburg vào năm 1776.

Những đóng góp của ông cho kinh tế học:
  • Theo ông, lãi suất được quyết định bởi cung và cầu về tiết kiệm. Tiết kiệm nhiều hơn sẽ làm giảm lãi suất và cho phép thương nhân vay mượn nhiều hơn để mở rộng sản xuất, giúp kinh tế tăng trưởng. Tiết kiệm ít hơn sẽ có tác động ngược lại.
  • Ông phân tích cơ chế luồng tiền như sau khi cung tiền của nền kinh tế tăng:
o     Trong ngắn hạn do giá cả không thay đổi ngay nên khi có nhiều tiền, tiêu dùng tăng và các thương nhân sẽ mở rộng sản xuất, việc làm gia tăng nhiều hơn. Cho nên dù giá cả có tăng chút ít thì lạm phát này vẫn tốt[1] vì nó làm tăng lợi nhuận kinh doanh, kích thích tăng trưởng kinh tế.
o     Tuy nhiên, trong dài hạn, đến một lúc nào đó thì tăng công việc dẫn đến tăng tiền công[2] và đến một lúc nào đó dù cầu vẫn tăng nhưng sản xuất không tăng để đáp ứng kịp dẫn đến giá cả tăng vọt. Sản xuất lúc này bắt đầu giảm xuống và kéo theo thất nghiệp gia tăng.
o     Đối với thương mại quốc tế. Khi giá cả hàng hoá trong nước gia tăng, khiến cho hàng hoá nước ngoài trở nên rẻ hơn[3] thì quốc gia bị thâm hụt thương mại, khiến cho lượng tiền trong nước giảm xuống, chi tiêu sẽ ít hơn nên giá trong nước sẽ giảm. Mất cân đối thương mại vì thế sẽ không kéo dài. Nước thặng dư thương mại sẽ có cung tiền tăng và trải qua lạm phát, điều này có xu hướng làm giảm thặng dư thương mại của họ. Ngược lại, nước có thâm hụt thương mại sẽ có cung tiền và giá cả giảm, giúp làm giảm thâm hụt thương mại của họ. Và từ đó lượng vàng trong nước sẽ cân bằng, nhập khẩu bằng xuất khẩu.
  • Ông cũng cho rằng thương mại có ích với cả các nước nghèo và nước giàu. Nước nghèo có thể tăng trưởng và phát triển, mức sống của họ sẽ theo kịp những nước láng giềng và đối tác thương mại giàu có hơn là do có sự chuyển giao công nghệ từ những nền kinh tế phát triển sang nền kinh tế kém phát triển hơn.[4] Còn bản thân các nước giàu có lợi là nhờ xuất khẩu bán hàng hoá ở những nước nghèo đó. Với lập luận đó, ông ủng hộ tự do thương mại và phản đối hạn chế trao đổi giữa các quốc gia theo kiểu trường phái trọng thương.


[1] Điều này hiện nay cũng được nhiều nhà kinh tế học đồng ý và cả số liệu thống kê cũng cho thấy rõ điều đó. Khi lạm phát thấp thì kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tăng quá cao, trên 2 con số thì kinh tế sẽ đi xuống.
[2] Thời này đầu vào chỉ được nhấn mạnh yếu tố lao động. Ngay cả lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo sau đó vài thập kỷ cũng chỉ nói về yếu tố lao động đầu vào.
[3] Do chi phí đầu vào của hàng hoá nước ngoài rẻ hơn
[4] Lý luận này đến nay vẫn được sử dụng, tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi với lập luận tương tự của Gunnar Myrdal. Xem thêm trong Kinh tế học quốc tế, Lý thuyết ‎ngoại thương.


--- CÒN TIẾP ---

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p5, FRANCOIS QUESNAY

FRANCOIS QUESNAY (1694 – 1774)

Ông nổi tiếng là người sáng tạo ra mô hình kinh tế đầu tiên, Biểu kinh tế (Tableau Economique) và là người đứng đầu trường trái Trọng nông. Chính sách Thị trường tự do (Laissez-Faire) và phản đối của ông đối với việc đánh thuế khu vực sản xuất được các nhà kinh tế bảo thủ đánh giá cao. Ông cũng đã chỉ ra được tầm quan trọng của thặng dư kinh tế trong sản xuất.

Quesnay sinh năm 1694 trong một gia đình có cha là nông dân và là chủ cửa hàng nhỏ. Vì thế ông không được giáo dục một cách chính thống. Nhưng Quesnay là một người ham mê sách và thường đến Paris để mua các cuốn sách cũ của Plato và Aristotle.

Vào năm 17 tuổi, ông quyết định trở thành nhà giải phẫu. Mặc dù không thích máu nhưng ông vẫn tiếp tục nghiên cứu y khoa. Năm 1717, ông vượt qua kỳ thi về y học và được cấp chứng chỉ để sau đó mở một trạm y tế trong làng. Sau khi xuất bản vài cuốn sách về y học, ông trở nên nổi tiếng. Năm 1735, ông được mời làm bác sĩ riêng cho Công tước của Villeroy. Năm 1744, ông nhận bằng tiến sĩ y học và trở thành thành viên của Hội khoa học Pháp. Sau đó 5 năm, ông đến sống ở Versaille làm bác sĩ riêng cho bà Pompadour, người tình của vua Louis 15, đồng thời làm cố vấn y tế cho nhà vua.

Vào khoảng năm 55 tuổi, ông trở nên quan tâm đến kinh tế học và toán học. Với hiểu biết và mối quan hệ rộng, ông được mời viết một số mục trong Bách khoa thư của Diderot mà sau đó khiến ông trở nên rất nổi tiếng và được nhiều người ủng hộ.

Tất cả những bài viết cho Bách khoa thư đều phân tích quá trình kinh tế như một luồng luân chuyển của tiền tệ, hàng hoá và con người từ khu vực này sang khu vực khác của nền kinh tế.
  • “Ngũ cốc” là mục quan trọng nhất vì lần đầu tiên nó đưa ra học thuyết tuyên bố rằng chỉ có khu vực nông nghiệp là mang tính sản xuất và có thể tạo ra thặng dư, hay cách khác nghĩa là chỉ trong nông nghiệp thì sản lượng đầu ra mới lớn hơn đầu vào nhờ tính chất tự nhiên và sự màu mỡ của đất đai. Quan điểm này khác với quan điểm của trường phái trọng thương từng tuyên bố là của cải tạo ra nhờ thương mại. Tuy vậy, quan điểm này cũng chịu nhiều chỉ trích vì không đánh giá đúng vai trò của sản xuất công nghiệp trong việc tạo ra thặng dư, mà chỉ chú trọng vào nông nghiệp.
  • Quesnay phát triển thêm ý tưởng của Cantillon về miêu tả vận hành của nền kinh tế thông qua Biểu kinh tế, một mô hình nền kinh tế thông qua toán học. Ông cho rằng nền kinh tế có 3 khu vực:
    • Khu vực nông nghiệp: sản xuất ra lương thực, nguyên liệu thô và các hàng hoá nông nghiệp khác.
    • Khu vực công nghiệp: sản xuất ra hàng hoá công nghiệp cũng như các công cụ cần thiết cho lao động trong nông nghiệp và công nghiệp. Khu vực này cũng bao gồm khu vực dịch vụ ngày nay vẫn thường nói đến vì nó tạo thuận lợi cho thương mại trong nước và quốc tế.
    • Tầng lớp địa chủ: những người không sản xuất gì mà chỉ hưởng lợi từ địa tô, thặng dư của nông nghiệp.
--> Qua mô hình Zizac[1] thì ông cho rằng nên đánh thuế vào địa chủ, vì giai cấp này không sản xuất ra gì mà chỉ hưởng lợi để rồi tiêu xài xa xỉ, lãng phí. Không nên đánh thuế vào công nghiệp vì nó không tạo ra thặng dư, và nếu đánh thuế vào công nghiệp thì sẽ làm khu vực này giảm đầu vào nên dẫn đến công nghiệp suy thoái và kéo theo sản lượng đầu ra của nông nghiệp cũng giảm sút theo. Đánh thuế nông nghiệp thì kết quả càng tồi tệ hơn so với đánh thuế vào công nghiệp.

·         Hệ thống nông nghiệp Pháp cần phải được cơ cấu lại và cần có 2 thay đổi đặc biệt cần thiết sau:
o       Nông nghiệp phải được hiện đại hoá. Những mảnh đất nhỏ được canh tác bằng kỹ thuật lạc hậu thì cực kỳ kém hiệu quả. Bằng cách mở rộng sở hữu đất đai ở Pháp, những phương thức canh tác mới mà chỉ có thể áp dụng trên quy mô lớn mới có thể được áp dụng.
o     Nông nghiệp phải mang tính tư bản chủ nghĩa hơn. Bởi khi cải cách[2] dẫn đến tăng năng suất khiến cho thặng dư nông nghiệp tăng và khi đó nước Pháp sẽ thịnh vượng hơn.
o       Từ mô hình Biểu kinh tế của mình, ông cho rằng sự tiết kiệm, hay tích trữ tiền dẫn đến thiếu hụt tiền sẽ khiến cho suy giảm sản lượng quốc gia, khiến cho kinh tế Pháp bị đình đốn.
  • Cuối cùng, đối lập với trường phái trọng thương, ông ủng hộ tự do thương mại hàng hoá giữa các quốc gia. Bởi khi có tự do thương mại quốc tế sẽ dẫn đến hàng nông nghiệp của Pháp bán ra được nhiều hơn và từ đó nước Pháp sẽ giàu có, thịnh vượng.


[1] Một dạng số nhân k trong vĩ mô hiện đại
[2] Cụ thể là hiện đại hoá nông nghiệp


--- CÒN TIẾP ---

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p4, RICHARD CANTILLON

RICHARD CANTILLON (1687 – 1734)

Richard Cantillon là một nhân vật bí hiểm và đầy lôi cuốn. Người ta không biết nhiều về sự sinh thành và tuổi trẻ của ông. Cái chết của ông hiện vẫn còn gây tranh cãi.

Cantillon sinh ra trong một gia đình Thiên chúa giáo ở một thị trấn nhỏ Tây Bắc Ailen vào khoảng giữa 1680-1690. Năm sinh của ông được suy đoán nhờ vào thời gian ông nhập quốc tịch Pháp năm 1708 và để làm được điều đó, ông phải 21 tuổi. Từ năm 1711 đến 1713, ông làm thư ký cho Trợ lý Tổng chưởng Kho bạc Anh tại Tây Ban Nha. Năm 1716 ông trở về Pháp để tiếp quản ngân hàng từ một người họ hàng. Năm 1720 ông kiếm được một tài sản nho nhỏ nhờ vào kế hoạch Mississippi theo Đạo luật John, liên quan đến việc phát hành cổ phiếu cho toàn bộ vàng bạc mà người ta nghĩ là có ở khu vực sông Mississippi. Sau đó ông cho những người định đầu cơ và cổ phiếu này vay. Để lách luật chống cho vay nặng lãi của Pháp, ông đã giấu những khoản vay dưới dạng các giao dịch ngoại tệ bằng cách cho vay một loại tiền và yêu cầu thanh toán dưới dạng đồng tiền khác. Tuy vậy, những vụ kiện pháp lý vẫn xảy ra và để tránh nên ông quyết định trở về Anh sống cuộc sống xa xỉ với số của cải khổng lồ kiếm được.

Cái chết của ông gây nhiều tranh cãi. Đêm ngày 14-5-1734 ngôi nhà ông ở bị cháy và việc người ta chỉ tìm được cái xác không đầu sau vụ cháy. Việc trước ngày xảy ra vụ hoả hoạn, ông đã rút một số tiền lớn 10.000 bảng Anh, cũng như nhiều năm sau đó tại thuộc địa Surinam của Hà Lan ở Nam Mỹ, các giấy tờ cá nhân của ông được tìm thấy khiến nhiều người nghi ngờ ông còn sống sau vụ cháy.

Tác phẩm Luận về bản chất của thương mại của Cantillon được xuất bản sau hơn 20 năm xảy ra vụ cháy nhà ông ở London. Tác phẩm gồm 3 phần, chia thành 3 quyển:
  • Quyển 1, phần đầu mô tả nền kinh tế như một hệ thống gồm các luồng luân chuyển của tiền tệ và hàng hoá có mối liên hệ và tương tác với nhau ra sao. Ông cũng thấy rằng sản xuất trong các ngành nghề khác nhau bị quyết định bởi lượng cầu của các hàng hoá đó. Thuật ngữ “chủ doanh nghiệp” (entrepreneur) được ông giải thích chi tiết là người gánh vác rủi ro và những hoạt động kinh tế đều có tính rủi ro, nếu không có những người gánh vác rủi ro trong hiện tại để hy vọng kiếm được lợi nhuận trong tương lai thì sản xuất sẽ không diễn ra. Và những “chủ doanh nghiệp” này đóng vai trò rất quan trọng cho sự thịnh vượng của quốc gia.
  • Quyển 2 xem xét ảnh hưởng của tiền đến quá trình chu chuyển trong nền kinh tế. Việc có thêm nhiều tiền sẽ khiến cầu tăng và vì vậy việc làm và sản lượng sẽ mở rộng. Tuy nhiên, cầu tăng cũng sẽ làm cho giá cả tăng nhưng không nhất thiết tỷ lệ với tăng cung tiền. Và nếu tiền về cơ bản rơi vào tay thương nhân và nhà xuất khẩu thì sẽ có nhiều tiền tiết kiệm và đầu tư hơn, khiến cho sản xuất tăng thì giá sẽ không có xu hướng tăng. Nhưng nếu tiền rơi vào tay địa chủ, họ sẽ tiêu dùng xa xỉ nên giá cả sẽ tăng nhiều hơn, nhất là hàng xa xỉ. Và khi giá tăng sẽ dẫn đến xuất khẩu kém cạnh tranh và hàng nhập khẩu sẽ trở nên tương đối rẻ, hấp dẫn đối với người tiêu dùng trong nước. Khi đó thâm hụt sẽ xảy ra. Ông đã phát hiện ra cơ chế lưu chuyển của tiền tệ.
  • Quyển 3 thảo luận về chính sách thương mại và những gợi ý. Ông ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ và bảo đảm thặng dư thương mại trong công nghiệp. Tuy nhiên ông ủng hộ nó vì mục đích quân sự nhiều hơn là vì nguyên nhân kinh tế, bởi thặng dư thương mại trong lĩnh vực công nghiệp sẽ cho phép Anh nhập khẩu lương thực và có thể đảm bảo cho dân số đông hơn, nước Anh hùng mạnh hơn.

--- CÒN TIẾP ---

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p3, JOHN LOCKE

JOHN LOCKE (1632 – 1704)

Ông đóng góp cho kinh tế học chủ yếu với vai trò như một nhà triết học. Những biện hộ của ông về quyền sở hữu tư nhân, nền kinh tế thị trường tự do không cần sự can thiệp của nhà nước còn giá trị đến tận ngày nay.

Locke sinh năm 1632 trong một gia đình khá giả ở Anh. Cha ông là một luật sư sở hữu khá nhiều đất đai. Nhờ quen biết nên Locke được học ở trường Westminster, một trong những trường công tốt nhất và có ảnh hưởng nhất của Anh. Ông học rất giỏi nên sau đó được nhận học bổng vào học ở Oxford. Sau đó tốt nghiệp cử nhân năm 1656, và thạc sĩ năm 1659 rồi trở thành giảng viên về Hy Lạp học vào năm 1660 ở Oxford.

Sau đó, ông bắt đầu nghiên cứu thêm y khoa rồi trở thành bác sĩ riêng cho Bá tước Ashley, Bộ trưởng tài chính. Nhờ những mối quan hệ mà ông biết thêm về các vấn đề kinh tế quan trọng khi đó như thương mại với các nước thuộc địa Anh và lãi suất. Sau đó ông lại đam mê thêm triết học. Ông viết 2 tác phẩm Tiểu luận về sự hiểu biết của con người (1690) và Hai nghiên cứu về chính phủ (1690), giúp ông trở nên nổi tiếng như một nhà triết học vĩ đại. Tuy vậy, ông vẫn có những quan tâm về vấn đề kinh tế, đặc biệt là về tiền tệ và tiếp tục có những ảnh hưởng chính trị cho đến cuối đời.

Những đóng góp của ông cho kinh tế học: gồm 5 đóng góp nhưng trong đó có 3 đóng góp mang tính triết học và 2 mang tính kinh tế nhiều hơn.
  • Sự biện hộ cho quyền cá nhân của sở hữu tư nhân. Ông cho rằng tiền hay tư bản thật ra là sản phẩm của lao động quá khứ, do vậy sở hữu tiền là hợp lý vì người ta đã lao động để có được nó. Và sở hữu tư nhân sẽ khiến cho con người lao động có năng suất hơn.
  • Sự biện hộ cho Nhà nước trong nền kinh tế. Ông xem Nhà nước như một công ty trong đó các cổ đông là những người có tài sản. Con người đặt bản thân họ dưới sự thống trị của Nhà nước nhằm bảo vệ cuộc sống, tự do và đất đai của họ. Tất cả các công dân (hay ít nhất những người có tài sản, đất đai) đều có lợi khi tham gia vào xã hội dân sự và họ đều được ngầm định là thừa nhận sự thống trị của Nhà nước. Ngược lại, những người cầm quyền phải bảo vệ lợi ích của các công dân của họ, nếu không họ sẽ bị loại khỏi công việc đó và được thay thế bởi người khác, người sẽ duy trì khế ước xã hội đó. Tóm lại, Nhà nước xuất hiện như là kết quả của luật tự nhiên, của các quyết định mang tính cá nhân về luật và nguyên tắc.
  • Hành vi của cá nhân trong Kinh tế. Ông xem con người như là những cá nhân vị kỷ duy lý, hành động theo động cơ kinh tế. Điều này khác với quan điểm tôn giáo đương thời cho rằng con người có lòng vị tha, hay về cơ bản họ đi theo tiếng gọi của tôn giáo. Và vì hành động của con người theo động cơ kinh tế, cách thức nhất định nên ta có thể tìm ra các quy luật và nguyên lý kinh tế.
  • Lãi suất tự nhiên là tốt nhất chứ không nên được áp đặt bởi các sắc lệnh từ Nhà nước. Lãi suất tự nhiên là lãi suất thị trường tự do, được quyết định bởi quy luật cung cầu.
  • Ông cũng phản đối lại việc chính phủ giảm trọng lượng của kim loại quý khi đúc tiền vì cho rằng giá trị tự nhiên của tiền không thể được áp đặt bởi Nhà nước. Việc giảm chất lượng đồng tiền sẽ làm cho các thương nhân yêu cầu nhiều tiền hơn trong trao đổi hàng hoá. Cuối cùng ông cũng thuyết phục được chính quyền không giảm giá trị đồng tiền Anh và đúc lại tiền với hàm lượng bạc như cũ.

--- CÒN TIẾP ---

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p2, WILLIAM PETTY

WILLIAM PETTY (1623 – 1687)

Ông là một trong những người đầu tiên suy nghĩ và viết ra một cách có hệ thống về kinh tế học và là một trong những người đầu tiên áp dụng nguyên lý kinh tế học vào thực tiễn. Ông có vai trò quan trọng chủ yếu do đã nhấn mạnh đến việc dùng con số hoặc dữ liệu để hiểu và giải thích nền kinh tế thực tế vận hành ra sao, dù rằng phải mất đến 250 năm sau mới có được dữ liệu đáng tin cậy cho thống kê.

Ông sinh năm 1623, trong một gia đình thợ may nghèo ở Hampshire, miền Nam nước Anh. Việc học của ông về cơ bản chỉ học thuộc lòng, đó là kiểu giáo dục điển hình đối với trẻ em thuộc tầng lớp xã hội thấp thời đó. Dù vậy ông rất tò mò và đọc rộng về văn chương và khoa học.

Vào độ 13-14 tuổi, ông phụ việc trên một chiếc tàu qua lại biển Manche. Trong năm đầu tiên, ông bị gãy chân nên phải nghỉ và ở lại Pháp. Petty quyết định đi học. Sau đó ông dành 3 năm trong hải quân, rồi tiếp đến ở Hà Lan để học giải phẫu và y học.

Năm 1646, ông trở lại Anh để học y tại trường Oxford. Sau khi nhận bằng tiến sĩ, ông được bổ nhiệm làm Giáo sư giải phẫu tại Oxford. Ông trở nên nổi tiếng sau đó. Nhưng rồi nhận thấy cuộc sống nghiên cứu không thích hợp nên ông đã rời Oxford để trở thành bác sĩ trưởng trong quân đội Ailen. Thời gian này, ông đã dùng kiến thức và tích luỹ được nhiều của cải, đất đai.

Vào năm 1660, ông giúp thành lập Hiệp hội hoàng gia London về Nâng cao hiểu biết tự nhiên, với mục đích tuân theo phương pháp khoa học của Francis Bacon để quan sát và thí nghiệm, nghiên cứu thế giới tự nhiên và xã hội.

Ông phát triển Phương pháp số học chính trị khi áp dụng chương trình nghiên cứu của Hiệp hội hoàng gia vào hiện tượng kinh tế. Phương pháp này tận dụng phương pháp định lượng để phân tích các hiện tượng kinh tế và xã hội. Nó sử dụng các con số và phép đo để miêu tả thực tại. Dùng những con số để suy luận về cách thức thế giới vận hành. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó đã cố gắng tách phân tích kinh tế ra khỏi vấn đề đạo đức hay niềm tin của cá nhân, làm cho kết quả nghiên cứu trở nên khách quan hơn. Nhưng đáng tiếc, vào thế kỷ 17, nước Anh không có các cơ quan của chính phủ để báo cáo các số liệu kinh tế một cách đều đặn, báo chí cũng không cung cấp mọi số liệu thống kê mà người quan tâm muốn biết, vì vậy khi cần ông phải tự thu thập tư liệu cần thiết.

Mặc dù được xem là nhà trọng thương nhưng ông ủng hộ thặng dư thương  mại để tăng việc làm hơn là để tích lũy của cải. Ông cũng nhận thấy nhiều lợi ích từ thương mại quốc tế. Ông không hướng vào thương mại để tăng trưởng kinh tế mà hướng vào tài chính công, chi tiêu của chính phủ hơn và cho đó là điều quan trọng để quốc gia phát triển thịnh vượng. Ông cho rằng thuế thu sẽ chỉ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nếu phần thuế này bị loại khỏi lưu thông, thậm chí những khoản chi tiêu công này phải bỏ vào những khoản vô ích nhưng nó vẫn tạo ra công ăn việc làm giúp loại bỏ nhàn rỗi. Ông chỉ trích sổ số Nhà nước và ủng hộ thuế lũy tiến mà theo đó người ta trả theo quyền lợi của họ trong nền Hoà bình công cộng theo tài sản hay sự giàu có và đôi khi ông cũng ủng hộ thuế tỉ lệ với tiêu dùng. Ông là người đầu tiên đưa ra ý niệm về thặng dư và giải thích nó qua địa tô mà sau đó được Quesnay phát triển.


--- CÒN TIẾP ---

50 nhà kinh tế tiêu biểu - Steven Pressman, p1, THOMAS MUN

THOMAS MUN (1571 – 1641)

Ông là người nổi tiếng và được kính phục nhất trong hàng ngũ các nhà kinh tế trọng thương Anh thế kỷ 17. Hai ý tưởng nổi bật của ông là:
  • Chính sách kinh tế của chính phủ nên được sử dụng để tạo ra thặng dư
  • Một quốc gia có thể tăng trưởng kinh tế nhờ tăng trưởng xuất khẩu

Ông của Mun làm việc cho Sở đúc tiền Hoàng gia còn cha ông là nhà công nghiệp trong ngành dệt. Bản thân Mun đã sớm trở thành một thương nhân, sống ở Italy nhiều năm và tích lũy được lượng tài sản lớn. Sau đó ông tham gia vào công ty Đông Ấn, một công ty cổ phần lớn của Anh, buôn bán chủ yếu ở Viễn Đông. Vào năm 1615, ông được đề cử là Giám đốc công ty, cương vị ông nắm giữ đến hết đời. Ông cũng được bổ nhiệm vào một số Hội đồng và Ủy ban của Anh, mặc dù bản thân ông chỉ viết có 2 bài khảo luận về kinh tế.

Tác phẩm đầu tiên của ông (1621) nhằm mucj đích bảo vệ công ty Đông Ấn lại những chỉ trích khi công ty này nhập khẩu gia vị về Anh, làm mất đi vàng bạc của Anh. Ông đã đưa ra lập luận rằng:
  • Nếu như các gia đình trở nên tằn tiện và chi tiêu ít hơn thu nhập, gia đình đó sẽ giàu có. Và công ty Đông Ấn cũng vậy, nếu nó giàu có phát đạt thì nước Anh sẽ giàu có thịnh vượng hơn.
  • Việc nhập khẩu những lương thực, quần áo và đạn dược là cần thiết và sẽ tăng phúc lợi cho nước Anh, do đó là những mặt hàng thiết yếu. Sẽ chỉ có hại cho nước Anh nếu người ta nhập những hàng hoá xa xỉ. Và hàng hoá mà công ty Đông Ấn nhập khẩu là những hàng hoá thiết yếu.
  • Ngoài ra, việc giao thương với Ấn Độ cũng sẽ giúp Anh mở rộng thị trường xuất khẩu sang Ấn và nó sẽ làm lợi cho Anh hơn là giao thương với Thổ Nhĩ Kỳ.

Tác phẩm thứ 2 của ông được xuất bản sau khi ông qua đời giúp ông trở nên nổi tiếng trong lịch sử tư tưởng kinh tế. Trong tác phẩm này, ông đứng trên quan điểm tổng thể quốc gia, nhìn nhận thương  mại nói chung chứ không phải chỉ là thương mại của công ty Đông Ấn. Ông cho rằng ngoại thương sẽ làm một quốc gia trở nên giàu có nếu nó dẫn đến thặng dư thương mại. Ông cũng đồng thời đề xuất những phương pháp để những nhà lãnh đạo nước Anh thực hiện nếu muốn cải thiện vị trí thương mại của nước này.
  • Để tăng thặng dư thì cần phải có chính sách giá “tốt nhất”. Nếu nước Anh độc quyền trong thương mại hoặc gần với độc quyền thì nên bán với giá cao. Nhưng nếu cạnh tranh với nước ngoài nữa thì hàng hoá của nước Anh cần phải bán với giá càng thấp càng tốt, bởi nó sẽ giúp đánh bại được địch thủ nước ngoài. Và khi đối thủ cạnh tranh biến mất thì có thể tăng giá nhưng cũng không nên quá cao đến mức lại hấp dẫn đối thủ cạnh tranh đó quay lại thị trường.
  • Hàng hoá chất lượng tốt sẽ có nhu cầu cao hơn trên thế giới và cũng sẽ giúp nước Anh xuất khẩu được nhiều hơn. Ông đề xuất thành lập Hội đồng thương mại để có thể cố vấn cho chính phủ những vấn đề liên quan đến quy định hoạt động công nghiệp và thương mại, cũng như để đảm bảo rằng nước Anh có thể sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao.
  • Thuế quốc gia có thể giúp tạo ra thặng dư nếu đánh thuế vào những hàng hoá xa xỉ. Không nên đánh thuế xuất khẩu vì nó sẽ tạo ra chi phí cho hàng hoá nước Anh ở nước ngoài. Thuế nhập khẩu nên thấp nếu hàng hoá đó sau đó được xuất khẩu, còn đánh thuế nhập khẩu cao đối với những hàng nhập dành cho tiêu dùng.
  • Ông cũng lưu ý Nhà nước khi thu được thuế rồi thì không nên chi tiêu xa xỉ, lãng phí mà tiền thuế đó cần phải được tiết kiệm để dành cho những lúc khẩn cấp. Nhà nước cũng đồng thời không nên thu thuế quá cao bởi sẽ làm cho nguồn vốn tạo ra tư bản bị giảm sút.

Dù tư tưởng của phái trọng thương bị một số người phản đối, do nhà nước can thiệp quá nhiều vào thị trường. Nhưng những tư tưởng này vẫn được ca ngợi bởi Keynes hay được thực hiện thành công tại nước Nhật, châu Á vào nửa sau thế kỷ 20. Chính phủ Nhật đặt ra các tiêu chuẩn sản phẩm chất lượng cao, sử dụng thuế quan và bảo hộ cho nhập khẩu trong khi đó khuyến khích các công ty trong nước xuất khẩu.



--- CÒN TIẾP ---

Các học thuyết thương mại quốc tế, p2

Trường phái cổ điển
Adam Smith: với lý thuyết lợi thế tuyệt đối cho rằng các quốc gia nên tiến hành trao đổi tự do trên cơ sở phân công lao động giữa các quốc gia với nhau. Quốc gia chỉ nên sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá nào mà mình tốn ít chi phí hơn so với chi phí trung bình của thế giới của thế giới cho hàng hoá đó. Và nên nhập khẩu những loại hàng hoá mà họ sản xuất chúng có chi phí cao hơn chi phí trung bình trên thế giới. Cụ thể hơn, là mua hàng hoá của quốc gia bằng một phần sản phẩm mà chúng ta sản xuất ra trong ngành công nghiệp mà chúng ta có lợi thế.
D. Ricardo: cho rằng khi mỗi nước chuyên môn hoá vào sản xuất sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng của mỗi sản phẩm trên thế giới sẽ gia tăng và kết quả là tất cả các bên đều trở nên giàu có hơn. Đây là một trong những quy luật quan trọng nhất giúp mở ra một trang mới của Thương mại quốc tế. Nó cho phép các quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối vẫn có thể tham gia vào thương mại thế giới để làm lợi cho mình dựa vào các hàng hoá mà nước đó có lợi thế so sánh.
Trường phái hiện đại
G. Haberler: theo ông, quy luật lợi thế so sánh có thể được xem như quy luật chi phí cơ hội và như thế sẽ đúng hơn, vì lợi thế so sánh chỉ mới giải thích trên cơ sở lý luận giá trị – lao động, còn chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng hoá khác phải cắt giảm để có đủ lượng tài nguyên cho việc sản xuất thêm hàng hoá đó. Như vậy, một quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản xuất một hàng hoá nào đó thì họ nghiễm nhiên có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hoá đó nhưng không có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hoá khác.
Hecksher & Ohlin: lý thuyết này cũng dựa vào quy luật lợi thế so sánh của Ricardo mà phát triển thêm bởi hai nhà kinh tế học Thụy Điển là Hecksher & Ohlin. Ý tưởng chính là xuất khẩu yếu tố sản xuất đầu vào dư thừa và nhập khẩu yếu tố sản xuất khan hiếm. Các nước do có những tiềm năng khác nhau, nước có nguồn lao động dồi dào còn nước khác thì có vốn dư thừa, vậy nước có nhiều lao động sẽ sản xuất loại hàng hoá thâm dụng (sử dụng nhiều) lao động, còn nước dư thừa vốn sẽ sản xuất hàng hoá thâm dụng, đòi hỏi nhiều vốn. Và khi trao đổi với nhau, các nước sẽ giúp làm lợi lẫn nhau cho các bên.
4 định luật liên quan đến mô hình của Hecksher – Ohlin:
  • Định luật Rybczynski (The Rybczynski Theorem): Khi các yếu tố được sử dụng hoàn toàn, sự gia tăng của yếu tố sản xuất này để làm tăng sản lượng của sản phẩm thâm dụng yếu tố đó thì sẽ làm giảm sản lượng của sản phẩm khác còn lại.
  • Định luật Hecksher – Ohlin (The Hecksher – Ohlin Theorem):một nước có lợi thế so sánh ở sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất đầu vào mà quốc gia đó dồi dào.
  • Định luật Stolper – Samuelson (The Stolper – Samuelson Theorem): sự gia tăng giá tương đối của sản phẩm làm nâng mức giá thực tế của yếu tố thâm dụng trong sản xuất sản phẩm đó và làm giảm giá thực tế của yếu tố khác.
  • Định luật cân bằng giá yếu tố sản xuất (Factor – Price equalization theorem): ngoại thương không chỉ dẫn tới cân bằng giá của hàng hoá mà còn cân bằng của các yếu tố sản xuất mà không phụ thuộc vào nhu cầu hay mức cung ứng các yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia. Ví dụ như giá đất thuê, giá thuê nhân công… đều được xem là như nhau giữa hai nước. Định luật này nhấn mạnh đến sự thay thế, di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia. Trong thực tế điều này chưa đúng hoàn toàn nhưng nó cũng có tác động giúp cho sự chênh lệch giá giữa các quốc gia giảm bớt lại.
Michael Porter – thuyết Lợi thế cạnh tranh: Ông cho rằng những lợi thế so sánh truyền thống như tài nguyên thiên nhiên hay lao động không còn là nguồn gốc của sự thịnh vượng. Có thể có nhiều loại lợi thế cạnh tranh bao gồm cả về yếu tố sản xuất, môi trường kinh doanh  năng động, có nhiều thách thức, khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp liên tục cải tiến và mở rộng lợi thế của họ qua thời gian, như sự sẵn có các nguồn tài nguyên, những thông tin giúp nhận biết những cơ hội và hướng sử dụng nguồn tài nguyên và các kỹ năng; doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh khi mục tiêu của chủ doanh nghiệp, nhà quản lý và người lao động ủng hộ cam kết mạnh mẽ và đầu tư lâu dài… Đôi khi nó cũng sẽ gây ra sự thua lỗ cho doanh nghiệp trong nước nhưng những công ty còn lại và nổi lên thì sẽ thành công trong việc cạnh tranh quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Tiến Dũng, Vũ Văn Nghinh, Lịch sử các học thuyết Kinh tế, NXB ĐH Quốc gia Tp. HCM, 2008
Hoàng Vĩnh Long (chủ biên), Kinh tế học quốc tế, NXB ĐH Quốc gia Tp. HCM, 2008
Michael Porter, Lợi thế cạnh tranh quốc gia, NXB Trẻ, 2008
Nguồn internet khác
— HẾT —

Các học thuyết thương mại quốc tế, p1

Chủ nghĩa trọng thương


Stafford: chủ trương chỉ có xuất mà không có nhập khẩu, có các quan điểm thương mại chủ yếu sau:

  • Đề nghị cấm nhập khẩu hàng xa xỉ, thu hẹp tiêu dùng hàng nước ngoài, chống sự tiêu xài xa xỉ, cấm xuất khẩu nhiên liệu mà sau đó tái chế biến để nhập lại vào nước anh
  • Những thương nhân nước ngoài mua hàng nước Anh đều phải dùng đồng bảng, tiền của Anh.
T. Mun: khác với Stafford, ông cho rằng:
  • Việc tạo thêm của cải (tiền) cho Anh quốc không chỉ bằng cách cấm xuất khẩu chúng mà còn bằng ngoại thương tích cực: tăng giá trị xuất khẩu so với nhập khẩu H – T – H’ (H>H’): xuất khẩu hàng hoá H, bán lấy tiền T và nhập khẩu (mua hàng hoá khác của nước ngoài) H’, nhưng H’<H thì vẫn có lợi
  • Sẵn sàng xuất khẩu tiền nếu nó đảm bảo cho việc tăng lên của lợi nhuận thương nghiệp T – H – T’ (T<T’), xuất khẩu (dùng) tiền T mua hàng hoá H của nước ngoài sau đó gia công hoặc bán lại cho nước khác và thu lại số tiền là T’ và T’>T thì vẫn có lợi
  • Vẫn ủng hộ chế độ thuế quan bảo hộ mậu dịch nhưng cần giảm thuế xuất khẩu đối với những hàng hoá trong nước sản xuất
Nói chung, chính sách của chủ nghĩa trọng thương là trong ngoại thương nước này được thì nước khác phải bị thiệt
Chủ nghĩa trọng nông
Trái ngược với trọng thương khi cho rằng cần phải bãi bỏ thuế quan và cho tự do mậu dịch, tự do xuất khẩu hàng nông sản ra nước ngoài để bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp tự sản trong nông nghiệp, nhưng vẫn đánh thuế vào giai cấp địa chủ.
— CÒN TIẾP —